Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 08/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thạch.
  2. Bà Phạm Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nhật Lam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/HSST ngày 19/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025 đối với:

  1. Bị cáo: Nguyễn Nhật V, sinh ngày 29/4/1994 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn L và bà Lê Thị Ngọc H; vợ, con: Chưa có; căn cước công dân số [...]; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/5/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định số 105/QĐ-XPHC; nhân thân: Ngày 07/11/2021, bị Công an xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền với số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Quyết định số 16/QĐ-VPHC; bị tạm giam từ ngày 29/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị hại:
    1. Ông Lê Xuân T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Xóm H, thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
    2. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Xóm G, thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
    3. Ông Trần Minh T1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Xóm F, thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm G, thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
    2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1962; nơi cư trú: Đ, tổ dân phố A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
    3. Ông Nguyễn L, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1969; cùng cư trú: Xóm D, thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; ông L vắng mặt tại phiên tòa, bà H có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/5/2024, bị cáo Nguyễn Nhật V (sau đây viết tắt là V) bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định số 105/QĐ-XPHC. Mặc dù chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng trong khoảng thời gian từ ngày 25/10/2024 đến ngày 18/11/2024, V đã 3 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/10/2024, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76AB-063.62 (do V đăng ký sở hữu) đi từ nhà của V ở thôn P, xã B đến thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để dạo chơi thì phát hiện trong sân nhà của ông Lê Xuân T có 01 (một) can nhựa (loại can 30 lít) chứa 16,62 lít (mười sáu phẩy sáu mươi hai lít) dầu Diesel không có người trông coi nên V lén lút trộm cắp can dầu này của ông T bỏ lên xe. Sau đó, V điều khiển xe đến khu vực gần ngã ba T thuộc xã B bán can dầu nêu trên cho một người đàn ông (không xác định được nhân thân) được số tiền 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng) để tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số 111/KL-HDĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận 01 (một) can nhựa loại 30 lít đã qua sử dụng và 16,62 lít dầu Diesel có tổng giá trị là 330.107 đồng (ba trăm ba mươi nghìn một trăm lẻ bảy đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 15/11/2024, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-617.74 (thuộc sở hữu của ông Nguyễn L) đến thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi thì phát hiện cơ sở xay xát lúa của bà Võ Thị H1 có một số bao gạo không có người trông coi nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, V lén lút đi bộ vào bên trong cơ sở xay xát lúa rồi trộm cắp 01 (một) bao gạo, loại gạo dẻo, trọng lượng 30kg bỏ lên xe rời khỏi hiện trường. Khi điều khiển xe đến tổ dân phố A, thị trấn C, huyện B thì V bán bao gạo trên cho một người phụ nữ (không xác định được nhân thân) được số tiền 380.000 đồng (ba trăm tám mươi nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận 30 (ba mươi) kilogam gạo, loại gạo dẻo giá trị 510.000 đồng (năm trăm mười nghìn đồng).

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/11/2024, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76C1-617.74 đến thôn A, xã B, huyện B thì phát hiện cơ sở xay xát lúa của ông Trần Minh T1 có một số bao lúa nhưng không có người trông coi nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, V lén lút vào cơ sở xay xát lúa rồi trộm cắp 01 (một) bao lúa dẻo, trọng lượng 45kg của bà Trần Thị Kim P gửi cho anh T1 để xay gạo trước đó, V mang bao lúa trộm cắp được bỏ lên xe và đi đến tổ dân phố A, thị trấn C bán cho bà Lê Thị N được số tiền 400.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận 45 kilogam lúa, loại lúa dẻo giá trị 387.000 đồng (ba trăm tám mươi bày nghìn đồng).

Cáo trạng số 30/CT-VKS-BS ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi quyết định truy tố bị cáo V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù; căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 76AB-063.62.

Tranh tụng tại phiên toà, bị cáo V thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố; bị cáo không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo, giáo dục bản thân để sớm trở về với gia đình.

Trong quá trình điều tra, các bị hại xác định đã được bồi thường về dân sự và không có yêu cầu gì khác về dân sự, đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận hành vi phạm tội như mô tả trong cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Bị cáo V là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 24/5/2024, bị cáo V bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Mặc dù chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng trong các ngày 25/10/2024, 15/11/2024, 18/11/2024, bị cáo V đã 03 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại là ông Lê Xuân T, bà Võ Thị H1 và ông Trần Minh T1 với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 1.227.107 đồng (một triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn một trăm lẻ bảy đồng) như đã nêu trên nên hành vi của bị cáo V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3.1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả, có ông nội là liệt sĩ và bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V nên bị cáo V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Trong vụ án này, bị cáo V nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo V như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải bắt bị cáo Vũ chấp H2 hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh tội phạm.

[5] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 76AB-063.62 thuộc sở hữu của bị cáo V. Ngày 25/10/2024, bị cáo V sử dụng xe biển kiểm soát 76AB-063.62 vào việc phạm tội nên căn cứ các Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu xe này sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo V đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và các bị hại không có yêu cầu gì dân sự đối với bị cáo V.

[7] Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

[7.1] Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm người đàn ông mua can dầu Diesel vào ngày 25/10/2024 và người phụ nữ mua bao gạo vào ngày 15/11/2024 do V trộm cắp mà có nhưng không xác định được nhân thân của những người này nên không có căn cứ để xử lý.

[7.2] Khi mua bao lúa do V bán vào ngày 18/11/2024 thì bà Lê Thị N không biết đây là tài sản do V trộm cắp mà có nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà N.

[7.3] Ông Nguyễn L (là cha ruột của V) không biết việc V sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 76C1-617.74 làm phương tiện đi lại để thực hiện hành vi trộm cắp nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn Lựu .

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đề nghị Kiểm sát viên về tội danh đối với bị cáo V phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện; đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đề nghị các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật V mức hình phạt 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 29/11/2024).
  3. Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 76AB-063.62 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).
  4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Nhật V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Bình Sơn;
  • - CQCSĐT, CQHSNV, Trại Tạm giam
  • Công an tỉnh Quảng Ngãi
  • - Chi cục THADS huyện Bình Sơn;
  • - UBND xã Bình Phước (thay thông báo);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger