Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-ST

Ngày 07 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh

Bà Bùi Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 45/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Tiến D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29 tháng 8 năm 1984, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH D1; trình độ học vấn: 12/12; con ông Bùi Danh B và bà Nguyễn Thị N; vợ: Trần Thị S (đã ly hôn); có 02 con; lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1959.
  2. Địa chỉ: khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  3. Anh Trần Văn H, sinh năm: 1981.
  4. Địa chỉ: số A đường L, xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người chứng kiến:

  1. Chị Hoàng Thị N1, sinh năm 1981
  2. Địa chỉ: Khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.

  3. Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm: 1978.
  4. Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.

  5. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố, H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắc Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn D1 (sau đây gọi tắt là Công ty TNHH D1) thuộc loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn H2, mã số doanh nghiệp: 2900895491; đăng ký lần đầu vào ngày 26/05/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 6 vào ngày 28/7/2020. Mã số thuế: 2900895491, địa chỉ trụ sở chính: Xóm M, Xã H, Huyện H, tỉnh Nghệ An. Người đại diện trước pháp luật (Giám đốc): Bùi Tiến D, sinh năm 1984, Số CMND: [...], cấp ngày 04 tháng 10 năm 2009, nơi cấp: Công an N2; thường trú: Số nhà A, Ngõ A, đường T, Phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Thành viên góp vốn: Bùi Tiến D (Giám đốc) góp vốn số tiền 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ, năm trăm triệu đồng), chiếm tỷ lệ 57,895%; Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959, trú tại K V, Phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An (mẹ của Bùi Tiến D) góp vốn số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), chiếm tỷ lệ 42,105%.

Công ty có vốn điều lệ: 9.500.000.000 đồng (chín tỷ năm trăm triệu đồng); kê khai thuế GTGT bằng phương pháp khấu trừ thuế, kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực S1 (trước đây là Chi cục thuế huyện H). Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng, Giao thông thuỷ lợi dân dụng và kinh doanh xăng dầu.

Công ty TNHH D1 có 01 (một) cửa hàng xăng dầu Đường H (địa chỉ: K, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An). Thương nhân cung cấp xăng dầu: Công ty cổ phần H3 (địa chỉ: xóm G, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An). Đối với xăng, dầu mua của thương nhân phân phối, hợp đồng đại lý được người đại diện trước pháp luật (Giám đốc) ký kết với thương nhân phân phối xăng, dầu. Từng đợt mua xăng, dầu: Bùi Tiến D liên hệ đặt hàng với bên bán hàng, bên bán giao hàng cửa hàng xăng, dầu của Công ty TNHH D1. Công ty TNHH D1 thanh toán bằng chuyển khoản từ tài khoản của Công ty TNHH D1 đến tài khoản ngân hàng của Thương nhân phân phối xăng, dầu. Công ty TNHH D1 hạch toán kế toán việc mua hàng, thanh toán việc mua hàng, lập hoá đơn khi bán hàng, hạch toán việc bán hàng, thu tiền bán hàng và kê khai thuế theo quy định đối với hàng hoá mua của thương nhân phân phối.

Công ty TNHH D1 có 01 (một) xe ô tô tải để vận chuyển xăng, dầu xe tẹc 18 tấn, mang Biển kiểm soát: 37C – 284.23, xe mua vào lại vào năm 2018, xe đăng ký tên Công ty TNHH D1, xe có chứa 05 ngăn, dung tích tẹc là 24.571 lít.

Khoảng tháng 5/2020, qua trao đổi qua điện thoại với ông Trần Văn H - Giám đốc Công ty Cổ phần P (MST: 2901907446, có địa chỉ tại thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh), Bùi Tiến D biết được Công ty Cổ phần P ngoài việc cung cấp xăng dầu có hoá đơn ra còn bán ra thị trường loại xăng, dầu không có hoá đơn với giá cả thấp, lợi nhuận cao. Do đó, Bùi Tiến D đã liên hệ và mua xăng, dầu của Công ty Cổ phần P (bên bán không lập hoá đơn khi bán hàng) cho cửa hàng kinh doanh xăng, dầu của Công ty TNHH D1 để kinh doanh.

Về hành vi mua xăng, dầu giữa Công ty TNHH D1 và Công ty cổ phần P (bên bán không lập hoá đơn):

Từ ngày 27/05/2020 đến ngày 01/08/2020, Bùi Tiến D là Giám đốc công ty, đại diện theo pháp luật, trực tiếp điều hành kinh doanh xăng, dầu của Công ty TNHH D1 đã mua hàng hoá (xăng A95, xăng E5, dầu DO 0,05S Diesel) không có hóa đơn, chứng từ của Công ty Cổ phần P (Mã số thuế: 2901907446; địa chỉ công ty: K, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh) tổng cộng 08 (tám) lần, tương ứng với tổng số tiền là 1.366.160.360 đồng (Một tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu một trăm sáu mươi ngàn ba trăm sáu mươi đồng). Cụ thể như sau:

Hàng hoá (xăng, dầu) Số tiền mua (đồng)
STT Ngày mua Loại hàng Số lượng (lít) Đơn giá (đồng/lít) Tiền (đồng)
1 27/05/2020 Dầu Diesel 10.586 11.350 120.151.100 120.151.100
2 06/06/2020 Xăng A95 4.066 12.380 50.337.080 122.330.480
Xăng E5 6.185 11.640 71.993.400
3 12/06/2020 Xăng A95 6.185 12.380 76.570.300 123.898.540
Xăng E5 4.066 11.640 47.328.240
4 29/06/2020 Xăng A95 4.042 14.260 57.638.920 228.892.510
Xăng E5 4.058 13.530 54.904.740
Dầu Diesel 10.251 11.350 116.348.850
5 11/07/2020 Dầu Diesel 10.251 11.350 116.348.850 171.037.110
Xăng E5 4.042 13.530 54.688.260
Xăng A95 6.185 14.260 88.198.100
6 16/07/2020 Xăng A95 6.185 14.260 88.198.100 156.470.480
Xăng E5 5.046 13.530 68.272.380
7 22/07/2020 Dầu Diesel 10.286 11.350 116.746.100 315.935.150
Xăng A95 8.100 14.260 115.506.000
Xăng E5 6.185 13.530 83.683.050
8 01/08/2020 Dầu Diesel 6.185 11.630 71.931.550 127.444.990
Xăng E5 4.058 13.680 55.513.440
Cộng:
Dầu Diesel 47.559 541.526.450 541.526.450
Xăng A95 28.578 388.250.400 388.250.400
Xăng E5 33.640 436.383.510 436.383.510
Tổng cộng 109.777 1.366.160.360 1.366.160.360

Toàn bộ xăng, dầu Bùi Tiến D mua của Công ty Cổ phần P nêu trên, bên bán không lập hoá đơn giá trị gia tăng.

- Về phương thức liên lạc: Ông Trần Văn H (Giám đốc Công ty cổ phần P) cung cấp cho Bùi Tiến D số điện thoại “0966.662.xxx” để liên lạc. Căn cứ vào nhu cầu mua hàng, Bùi Tiến D sẽ sử dụng số điện thoại cá nhân là “0966.662.xxx” để gọi điện đến số điện thoại “0964.141.xxx” (nhiều người nghe máy, Bùi Tiến D không biết từng lần cụ thể là ai) để đặt đơn hàng. Dựa vào số lượng Bùi Tiến D yêu cầu, Công ty cổ phần P báo giá và tính tổng số tiền mua hàng cho Bùi Tiến D biết. Sau đó, Bùi Tiến D tiếp tục sử dụng tài khoản viber có tên “Dũng Ba” (đăng ký bằng số điện thoại 0964.141.xxx, hiện Bùi Tiến D đã xoá tài khoản này) nhắn tin đến nhóm viber của Công ty Cổ phần P có tên: “NHÓM ĐẶT HÀNG” các thông tin: Ngày tháng mua hàng, loại hàng, số lượng, tên phương tiện và lái xe để họ lưu thông tin vào sổ sách.

- Về phương thức vận chuyển: Sau khi thống nhất số lượng, giá cả với Công ty cổ phần P, Bùi Tiến D đã chỉ đạo anh: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại Tổ dân phố, H, phường T, Thị xã B, tỉnh Đắc Lắk (lái xe Công ty TNHH D1) lái xe tải BKS: 37C - 284.23 (có dung tích là 24.571 lít) đến kho của Công ty cổ phần P tại thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh nhận xăng, dầu.

- Về thanh toán tiền mua hàng: Bùi Tiến D sử dụng số tài khoản: 108870854912, mở tại Ngân hàng TMCP C1, mang tên Bùi Tiến D chuyển khoản đến số tài khoản ngân hàng: 51010001550125, mở tại Ngân hàng Đ1 (B1), mang tên Nguyễn Thị Bích H1 (tài khoản do Trần Văn H cung cấp) để thanh toán tiền mua hàng. Tổng số tiền Bùi Tiến D đã thanh toán bằng hình thức chuyển khoản là 1.366.163.700 đồng (Một tỷ, ba trăm sáu mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi ba ngàn, bảy trăm đồng) (số tiền chuyển khoản này thừa so với số tiền trả tiền hàng 3.340 đồng, lý do thừa là do trong quá trình chuyển tiền hàng cọc và trả tiền hàng Bùi Tiến D chuyển chẵn tiền). Cụ thể:

TT Ngày tháng Diễn giải Số tiền thanh toán
1 27/5/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 90.009.900
2 27/5/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 30.146.000
3 06/06/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 100.009.900
4 06/06/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 23.491.900
5 12/6/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 125.308.000
6 29/6/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 170.000.000
7 29/6/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 300.000.000
8 29/6/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 15.460.000
9 11/7/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 159.490.000
10 16/7/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 78.673.000
11 22/7/2020 Chuyển khoản từ tài khoản: 108870854912 đến đến tài khoản: 51010001550125 của Nguyễn Thị Bích Hằng 273.575.000
Cộng 1.366.163.700

Đến nay, giữa Bùi Tiến D, Công ty TNHH D1 và Công ty P không phát sinh nợ phải thu, phải trả gì. Việc thanh toán tiền mua xăng, dầu cho Công ty cổ phần P, Công ty TNHH D2 hạch toán trong sổ kế toán.

Hành vi bán xăng, dầu không có hoá đơn, chứng từ mua của Công ty cổ phần P

Đối với số lượng xăng, dầu không có hóa đơn, chứng từ mua của Công ty cổ phần P, Bùi Tiến D chỉ đạo lái xe đi nhận hàng rồi vận chuyển giao ngay cho khách hàng hoặc bơm vào hai bể chứa tại cửa hàng xăng dầu Đường H (địa chỉ: K, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An). Khi khách hàng mua xăng, dầu không có hoá đơn, Bùi Tiến D chỉ đạo nhân viên Công ty TNHH D1 bơm trực tiếp từ bể chứa vào xe ô tô của khách hàng hoặc xe ô tô của Công ty TNHH D1 để đưa đi giao cho khách hàng. Mục đích để xăng, dầu xuất bán không qua hệ thống cột bơm có nhảy công tơ (số lượng xăng, dầu bán qua cột bơm) vì Cơ quan thuế cuối mỗi quý kiểm tra chỉ số công tơ để xác định lượng xăng, dầu bán ra trong kỳ.

Toàn bộ xăng, dầu Công ty TNHH D1 mua của Công ty cổ phần P (bên bán không lập hoá đơn) đã được Công ty TNHH D1 bán hết theo giá thị trường tại thời điểm bán. Khách hàng mua xăng, dầu không lấy hoá đơn được thanh toán bằng tiền mặt, không ghi chép sổ kế toán nên hiện nay Bùi Tiến D không nhớ đầy đủ toàn bộ khách hàng, địa chỉ khách hàng đã mua. Khách hàng mua xăng, dầu không lấy hoá đơn thanh toán bằng tiền mặt cho Bùi Tiến D, thanh toán bằng tiền mặt cho lái xe khi giao xăng, dầu hoặc thanh toán cho nhân viên trực tiếp bán xăng, dầu. Sau đó, lái xe, nhân viên nộp tiền mặt cho Bùi Tiến D. Bùi Tiến D không nộp vào quỹ của Công ty TNHH D1, không mở sổ sách theo dõi, không chỉ đạo kế toán hạch toán sổ kế toán.

Bùi Tiến D xác định số xăng, dầu mua của Công ty cổ phần P (bên bán không lập hoá đơn) được bán ra như sau:

- Dầu Diesel 0,05 S (Giá bán trên thị trường theo giá Công ty P quy định cho mặt hàng Dầu Diesel 0,05 S-II).

TT Ngày mua Số lượng mua (lít) Giá mua (đồng/lít) Thời gian bán (Từ ngày đến ngày) Số lượng bán (lít) Đơn giá bán (đồng/lít) Thành tiền (đồng)
1 27/5/2020 10.586 11.350 27/5/2020 - 02/6/2020 10.586 10.040 106.283.440
2 29/6/2020 10.251 11.350 29/6/2020- 6/7/2020 10.251 12.350 126.599.850
3 11/7/2020 10.251 11.350 11/7/2020- 17/7/2020 10.251 12.350 126.599.850
4 22/7/2020 10.286 11.350 22/7/2020- 28/7/2020 10.286 12.350 127.032.100
5 01/8/2020 6.185 11.630 01/8/2020- 07/8/2020 6.185 12.630 78.116.550
Tổng 47.559 47.559 564.631.790

Tổng: 564.631.790 (Năm trăm sáu mươi tư triệu sáu trăm ba mươi mốt ngàn bảy trăm chín mươi đồng).

- Xăng A95 (Giá bán trên thị trường theo giá Công ty P quy định cho X không chì RON 95-III).

TT Ngày tháng Số lượng (lít) Đơn giá (đ/lít) Thời gian bán (Từ ngày đến ngày) Số lượng bán (lít) Đơn giá bán (đồng/lít) Thành tiền (đồng)
1 6/6/2020 4.066 12.380 6/6/2020- 12/6/2020 4.066 13.380 54.403.080
2 12/6/2020 6.185 12.380 12/6/2020- 18/6/2020 6.185 14.360 88.816.600
3 29/6/2020 4.042 14.260 29/6/2020- 05/7/2020 4.042 15.260 61.680.920
4 16/7/2020 6.185 14.260 16/7/2020- 22/7/2020 6.185 15.260 94.383.100
5 22/7/2020 8.100 14.260 22/7/2020- 28/7/2020 8.100 15.260 123.606.000
Tổng 28.578 28.578 422.889.700

Tổng: 422.889.700 đồng (Bốn trăm hai mươi hai triệu tám trăm tám mươi chín ngàn bảy trăm đồng).

- Xăng E5 (Giá bán trên thị trường theo giá Công ty P quy định cho Xăng sinh học E5 RON 92-II).

TT Ngày tháng Số lượng (lít) Đơn giá (đ/lít) Thời gian bán Số lượng bán (lít) Đơn giá bán (đồng/lít) Thành tiền (đồng)
1 6/6/2020 6.185 11.640 6/6/2020- 12/6/2020 6.185 12.640 78.178.400
2 12/6/2020 4.066 11.640 12/6/2020- 18/6/2020 4.066 13.650 55.500.900
3 29/6/2020 4.058 13.530 29/6/2020- 5/7/2020 4.058 14.530 58.962.740
4 11/7/2020 4.042 13.530 11/7/2020- 17/7/2020 4.042 14.530 58.730.260
5 16/7/2020 5.046 13.530 16/7/2020- 22/7/2020 5.046 14.530 73.318.380
6 22/7/2020 6.185 13.530 22/7/2020- 28/7/2020 6.185 14.530 89.868.050
7 01/8/2020 4.058 13.680 01/8/2020- 07/8/2020 4.058 14.680 59.571.440
Tổng 33.640 33.640 474.130.170

Tổng: 474.130.170 đồng (Bốn trăm bảy mươi tư triệu một trăm ba mươi ngàn một trăm bảy mươi đồng).

Tổng hợp số xăng, dầu bán ra như sau:

Loại hàng hoá Tổng số lượng (lít) Tổng số tiền bán ra
Dầu Diesel 47.559 564.631.790
Xăng A95 28.578 422.889.700
Xăng E5 33.640 474.130.170
Tổng số tiền xăng dầu bán ra 1.461.651.660

Tổng số tiền bán hàng xăng, dầu được mua của Công ty cổ phần P (bên bán không lập hoá đơn): 564.631.790 đồng + 422.889.700 đồng + 474.130.170 đồng = 1.461.651.660 đồng (Một tỷ bốn trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi mốt ngàn sáu trăm sáu mươi đồng).

Công ty TNHH D1 ghi sổ kế toán và kê khai các loại thuế

Sổ kế toán, hồ sơ kê khai thuế của Công ty TNHH D2 hạch toán việc mua hàng và thanh toán tiền mua hàng, theo dõi công nợ với Công ty cổ phần P. Công ty TNHH D1 lập hoá đơn GTGT đầu ra với số lượng xăng, dầu bán ra tương ứng với số lượng xăng, dầu được nhập vào có hoá đơn GTGT và số lượng tồn kho. Việc bán xăng, dầu được mua của Công ty cổ phần P, Công ty TNHH D2 hạch toán việc bán hàng, thu tiền bán hàng, không kê khai nộp thuế.

Kết quả trưng cầu giám định

Căn cứ tài liệu, hồ sơ thu thập trong quá trình điều tra, ngày 29/8/2022, Cơ quan CSĐT (CSKT) Công an tỉnh N2 ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 428/QĐ-CQĐT gửi Cục Thuế tỉnh N. Ngày 04/07/2024, Cục Thuế tỉnh N ban hành Bản kết luận giám định về việc giám định tư pháp về thuế, kết luận xác định các loại thuế và số thuế phát sinh đối với số xăng, dầu bán ra không có hóa đơn như sau:

- Số tiền thuế GTGT phát sinh đối với số lượng xăng, dầu Công ty TNHH D1 đã bán không lập hóa đơn, không ghi chép trong sổ kế toán là: 132.877.423 đồng (một trăm ba mươi hai triệu tám trăm bảy mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi ba đồng).

- Số tiền thuế TNDN phát sinh đối với số lượng xăng, dầu Công ty TNHH D1 đã bán không lập hóa đơn, không ghi chép trong sổ kế toán là: 0 đồng.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 55/CT-VKS-P3 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Bùi Tiến D về tội “Trốn thuế” theo điểm b, c khoản 1 Điều 200 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Tiến D 100. 000.000 đồng đến 150.000.000 đồng về tội “Trốn thuế” và buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bùi Tiến D thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do đó, về các quyết định và hành vi tố tụng trong qúa trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N2, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Tiến D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: Trong thời gian 27/5/2020 đến 01/8/2020, Bùi Tiến D là Giám đốc công ty, đại diện theo pháp luật, trực tiếp điều hành kinh doanh xăng, dầu của Công ty TNHH D1, đã mua hàng hóa xăng dầu không có hóa đơn chứng từ của Công ty cổ phần P (bên bán không lập hoá đơn khi bán hàng) với tổng số lượng là 28.578 lít Xăng A95, 33.640 lít xăng E5 và 47.559 lít Dầu Diesel 0,05 S. Bùi Tiến D đã thanh toán cho Công ty cổ phần P số tiền 1.366.163.700 đồng (Một tỷ, ba trăm sáu mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi ba ngàn, bảy trăm đồng). Số lượng xăng, dầu không có hóa đơn chứng từ sau khi mua về được Bùi Tiến D được bán hết theo giá thị trường, khi bán không lập hóa đơn giá trị gia tăng, không hạch toán trong sổ kế toán của Công ty TNHH D1, không kê khai thuế nên không xác định được bán cho những khách hàng nào. Tổng số tiền thu được khi bán xăng, dầu không có hóa đơn mua của Công ty P là: 1.461.651.660 đồng (Một tỷ bốn trăm sáu mươi mốt triệu, sáu trăm năm mươi mốt ngàn sáu trăm sáu mươi đồng).

Căn cứ, Kết luận giám định tư pháp về thuế ngày 04/7/2024 của Cục Thuế tỉnh N kết luận: tổng số tiền thuế phát sinh phải nộp tăng thêm đối với số xăng, dầu không lập hoá đơn, chứng từ, không ghi chép trong sổ kế toán của Công ty TNHH D1 là: 132.877.423 đồng (một trăm ba mươi hai triệu tám trăm bảy mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi ba đồng). Trong đó: Số tiền thuế GTGT là 132.877.423 đồng (một trăm ba mươi hai triệu tám trăm bảy mươi bảy ngàn bốn trăm hai mươi ba đồng); Số tiền thuế TNDN là: 0 đồng.

Như vậy, Bùi Tiến D là Giám đốc Công ty TNHH D1, phụ trách, điều hành hoạt động kinh doanh xăng, dầu của Công ty. Trong quá trình hoạt động, các thành viên góp vốn không có sự bàn bạc về phương án kinh doanh, phân chia lợi nhuận; việc kinh doanh theo quy định của pháp luật cũng như việc mua, bán xăng, dầu không có hóa đơn, chứng từ là do cá nhân Bùi Tiến D thực hiện, vì lợi ích cá nhân. Vì vây, Bùi Tiến D phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc sử dụng tư cách pháp nhân Công ty TNHH D1 để kinh doanh xăng, dầu không có hóa đơn, chứng từ. Hành vi mua, bán xăng, dầu không có hóa đơn chứng từ, không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp là xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, là hành vi trốn thuế, được quy định tại khoản 2,3 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH 14 ngày 13/6/2019 quy định “ 2. Không ghi chép trong sổ kết toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp; 3. Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ”, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền số tiền thuế phát sinh phải nộp tăng thêm đối với Công ty TNHH D1 là 132.877.423đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Tiến D đã phạm tội “Trốn thuế” quy định tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực thuế và trật tự quản lý kinh tế, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến sự bình đẳng của các cá nhân, doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi và lợi ích cá nhân nên cố tình thực hiện. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp tính chất hành vi phạm tội nhằm giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt áp dụng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện nộp lại đầy đủ số tiền trốn thuế để khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quy định tại điểm b, i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 32 Bộ luật hình sự quy định “Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính” nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Các giấy tờ, tài liệu liên quan đã thu thập được lập biên bản theo quy định của pháp luật và lưu tại hồ sơ vụ án.

[7] Các vấn đề khác.

  • - Đối với pháp nhân Công ty TNHH D1: Công ty TNHH D1 có 02 thành viên góp vốn là Bùi Tiến D và bà Nguyễn Thị N (mẹ Bùi Tiến D); Bùi Tiến D là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty, điều hành hoạt động của Công ty, trong đó quản lý hoạt động kinh doanh xăng, dầu. Bản thân bà Nguyễn Thị N là thành viên góp vốn không có sự bàn bạc về phương án kinh doanh, phân chia lợi nhuận, việc kinh doanh theo quy định của pháp luật cũng như việc mua bán, vận chuyển xăng dầu không có hóa đơn, chứng từ là do cá nhân Bùi Tiến D thực hiện, vì lợi ích cá nhân, không vì lợi ích công ty, vì vậy, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại là Công ty TNHH D1.
  • - Đối với bà Nguyễn Thị N: Bà Nguyễn Thị N là thành viên góp vốn điều lệ thành lập Công ty TNHH D1. Quá trình điều tra xác định bà N không tham gia điều hành hoạt động của Công ty, không biết Bị cáo Bùi Tiến D mua bán xăng, dầu không có hoá đơn để trốn thuế. Căn cứ vào kết quả điều tra, không có căn cứ xử lý hình sự đối với bà Nguyễn Thị N với vai trò đồng phạm giúp sức cho Bùi Tiến D thực hiện hành vi phạm tội trốn thuế.
  • - Đối với Nguyễn Văn Đ (Nhân viên lái xe Công ty TNHH D1) và Lê Thị C (Kế toán Công ty TNHH D1): Lái xe và kế toán của Công ty TNHH D1, được Bị cáo Bùi Tiến D thuê vào làm việc, được trả công theo tháng, làm theo sự chỉ đạo của Bùi Tiến D, không biết việc Bùi Tiến D mua bán, kinh doanh xăng dầu không có hoá đơn GTGT, nhằm mục đích trốn thuế. Bị cáo Bùi Tiến D cũng không bàn bạc, thống nhất, không chia lợi nhuận cho những người này. Căn cứ kết quả điều tra không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn Đ, Lê Thị C với vai trò đồng phạm giúp sức cho Bùi Tiến D thực hiện hành vi phạm tội trốn thuế.
  • - Đối với ông Trần Văn H - Giám đốc; bà Hoàng Thị N1 - nhân viên và bà Nguyễn Thị Bích H1 – nhân viên thuộc Công ty cổ phần P: Ông Trần Văn H, giám đốc Công ty cổ phần P là người trực tiếp chỉ đạo bán xăng, dầu không có hoá đơn GTGT cho các khách hàng, trong đó có Công ty TNHH D1. Tuy nhiên, ông Trần Văn H không biết việc Bùi Tiến D mua xăng, dầu để kinh doanh nhằm mục đích trốn thuế. Do đó, không đủ căn cứ xem xét xử lý hình sự đối với ông Trần Văn H trong việc đồng phạm với Bùi Tiến D về hành vi trốn thuế. Mặt khác, việc ông Trần Văn H bán xăng, dầu không lập hoá đơn khi bán hàng, không ghi chép trong sổ kế toán của Công ty cổ phần P để trốn thuế đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Nghệ An khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Ngày 28/02/2024, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử vụ án Trốn thuế xảy ra tại Công ty cổ phần P và xử phạt bị cáo Trần Văn H 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) tại bản án số 41/2024/HSST.
  • - Bà Hoàng Thị N1 là kế toán của Công ty cổ phần P, trong quá trình làm việc, bà Hoàng Thị N1 đã được ông Trần Văn H chỉ đạo bán hàng (xăng, dầu) cho một số doanh nghiệp, công ty trên địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh mà bên bán không xuất hóa đơn khi bán hàng. Trong các khách hàng của Công ty cổ phần P có Công ty TNHH D1. Tuy nhiên, bà Hoàng Thị N1 không biết việc Bùi Tiến D mua xăng, dầu để kinh doanh nhằm mục đích trốn thuế. Do đó, không đủ căn cứ xem xét xử lý hình sự đối với bà Hoàng Thị N1 trong việc đồng phạm với Bùi Tiến D về hành vi trốn thuế. Mặt khác, việc bà Hoàng Thị N1 bán xăng, dầu không lập hoá đơn khi bán hàng, không ghi chép trong sổ kế toán của Công ty cổ phần P để trốn thuế đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Nghệ An khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự. Ngày 28/02/2024, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử vụ án Trốn thuế xảy ra tại Công ty cổ phần P và xử phạt bị cáo Hoàng Thị N1 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) tại bản án số 41/2024/HSST.
  • - Bà Nguyễn Thị Bích H1 là giáo viên trường THCS Q, được Trần Văn H tiếp nhận vào làm việc bán thời gian cho Công ty cổ phần P. Nhiệm vụ của bà Nguyễn Thị Bích H1 dọn dẹp tại văn phòng, mua sắm văn phòng phẩm... Quá trình làm việc, bà Nguyễn Thị Bích H1 được ông Trần Văn H giao đứng tên là chủ tài khoản của 04 ngân hàng nhưng ông Trần Văn H và bà Hoàng Thị N1 quản lý tài khoản, sử dụng tài khoản để khách hàng thanh toán tiền mua xăng, dầu không có hoá đơn GTGT. Bà Nguyễn Thị Bích H1 không biết được mục đích của các giao dịch phát sinh trong tài khoản, không biết Công ty cổ phần P bán xăng, dầu không có hoá đơn cho Bùi Tiến D, không biết việc Bùi Tiến D kinh doanh xăng, dầu không lập hoá đơn khi bán hàng, không hạch toán trong sổ kế toán nhằm mục đích trốn thuế. Do đó, không đủ căn cứ xem xét xử lý hình sự đối với bà Nguyễn Thị Bích H1 trong việc đồng phạm với Bùi Tiến D về hành vi trốn thuế. Trong vụ án “Trốn thuế” xảy ra tại Công ty cổ phần P, hành vi, vai trò, vị trí của bà Nguyễn Thị Bích H1 đã được làm rõ, đã được Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xem xét, đánh giá và xác định hành vi của bà Nguyễn Thị Bích H1 không cấu thành tội phạm tại Bản án số 41/2024/HSST ngày 28/02/2024.

[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Bùi Tiến D phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Tiến D 100.000.000 đồng ( một trăm triệu đồng) về tội “Trốn thuế".

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 132.877.423 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu tám trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng) tiền trốn thuế (bị cáo D đã nộp vào tài khoản ghi số [...], tài khoản tạm giữ của Sở tài chính tỉnh N theo giấy chứng nhận nộp tiền số CT-Doc no: 110924.0027.000006 ngày 11/9/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần N3);

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Tiến D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Tiến D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Nghệ An;
  • - UBND P. Quán Bàu, TP Vinh;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải Minh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

XÉT XỬ

Trần Mai Khanh      Bùi Thị Hoa

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hải Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 47/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger