|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/HS-PT
Ngày: 23/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Thu Hằng;
Các Thẩm phán: bà Vũ Ngọc Hà và ông Ngô Chịu .
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Ý Ngọc – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 42/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Trương Văn B, do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo: Trương Văn B – sinh ngày 01/01/1969; nơi cư trú: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương V (chết) và bà Võ Thị L (chết); vợ Nguyễn Thị Đ – sinh năm 1968; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư ông Phạm Hồng P – Công ty Trách nhiệm hữu hạn L1; địa chỉ: G N, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên, có mặt.
- Bị hại kháng cáo: Nguyễn Văn T – sinh năm 1971; địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23 tháng 12 năm 2023, ông Nguyễn Văn T mang theo 01 cái rựa đi làm rẫy thì phát hiện cây gỗ có tên thường gọi ở địa phương là cây X (cây Săng Đ1) mọc tự nhiên trên phần đất bờ ranh giữa rẫy của ông T với rẫy của B đã bị chặt. T nghi ngờ cho rằng B chặt lấy gỗ dùng để đốt than nên T cầm theo 01 cái rựa để làm rẫy đi đến rẫy của B ở khu vực Đ -T thuộc thôn P, xã A, huyện T gặp B để hỏi sự việc cây gỗ bị chặt. Tại đây, giữa T và B xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, thách thức đánh nhau. T cầm rựa gõ vào tấm tôn của B đe dọa đánh B. Thấy vậy B bực tức nghĩ T đánh B nên cầm lấy 01 khúc cây gỗ dài 1,37m cứng, chắc vung đánh về phía T làm rơi cái rựa T đang cầm trên tay, B tiếp tục vung đánh trúng vào vùng tay trái, vùng đầu của T gây thương tích. Bị đánh nên T nhặt lấy khúc cây gỗ bạch đàn dài 2,28m đánh trúng vào vùng đầu của B nhưng không gây thương tích rồi T bỏ chạy về nhà. Ngày 24/12/2023 Nguyễn Văn T đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B điều trị thương tích, đến ngày 30/12/2023 thì T xuất viện. Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai rằng Trương Văn B còn gây thương tích cho T tại vùng cột sống cùng S2-S3, tuy nhiên với tài liệu đã thu thập thể hiện Ngày 24/12/2023 Nguyễn Văn T đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B điều trị thương tích, đến ngày 30/12/2023 xuất viện, tại hồ sơ Bệnh án và Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa tỉnh B ghi nhận Nguyễn Văn T chỉ bị thương tích ở vùng cánh tay trái, vùng đầu không có thương tích vùng cột sống. Đồng thời lời khai ban đầu của Nguyễn Văn T khai chỉ bị Trương Văn B gây thương tích ở vùng cánh tay trái, vùng đầu. Do đó không có cơ sở để khẳng định thương tích vùng cột sống của Nguyễn Văn T là do Trương Văn B gây ra.
Tại Bản kết luận giám định số 76/KLTTCT-PYPY ngày 06/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T là 11%. (đánh giá từng vết thương: Mục IV.11 Chương 7 Tổn thương cơ xương khớp: 08%. Đánh giá phần gãy xương trụ trái; Mục I.1 Chương 8 Tổn thương phần mềm: 01%. Đánh giá cho vết sẹo dẫn lưu kích thước (0,5x0,3)cm; Mục I.2 Chương 8 Tổn thương phần mềm: 02%. Đánh giá cho vết thuật kích thước (10x0,2)cm; vật tác động: vật tày.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự. Xử phạt: bị cáo Trương Văn B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho ông ông Nguyễn Văn T 43.144.476đ, đã bồi thường trước 30.000.000đ, nên còn tiếp tục bồi thường 13.144.476đ (mười ba triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi sáu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/2/2025, bị hại Nguyễn Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 24/2/2025, có đơn sửa đổi đơn kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo và tăng bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm.
Ngày 24/02/2025, bị cáo Trương Văn B kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo, bị hại giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả thêm 15.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, để tiến hành xét xử vụ án và căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên đối đáp không nhất trí với ý kiến bị cáo, bị hại giữ nguyên quan điểm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn B tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo về hình phạt:
Bị cáo đã có hành vi dùng cây gỗ táo nhơn dài 1,37m cứng, chắc đánh trúng vào vùng tay trái, vùng đầu của ông T gây thương tích 11% là thể hiện sự xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác là đối tượng được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của địa phương. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật hình sự, vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo cùng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 01 năm tù, là đã xem xét đầy đủ, vận dụng chính sách khoan hồng của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và nộp thêm số tiền 15.000.000đ để khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ khắc phục hậu quả đã được cấp sơ thẩm áp dụng khi xét xử, do đó không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Kháng cáo của bị hại về việc xem xét, xử lý nghiêm hành vi của bị cáo, như đã phân tích trên, về tội danh, mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ, đúng quy định, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[4] Kháng cáo về bồi thường thiệt hại:
Bị hại kháng cáo không đồng ý đối với khoản tiền thăm khám, thuốc điều trị tại Bệnh Viện 23.424.476 đồng và tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 11.700.000 đồng như bản án sơ thẩm tuyên. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu bồi thường như sau:
- + Tiền thăm khám, thuốc điều trị tại Bệnh Viện là 28.677.920 đồng.
- + Tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 46.800.000 đồng (tương đương 20 tháng lương cơ sở).
- + Tiền điều trị thuốc nam: 610.000 đồng.
Các khoản tiền bồi thường khác còn lại, bị hại thống nhất với bản án sơ thẩm.
Xét thấy các khoản bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, cấp sơ thẩm đã xem xét chấp nhận đầy đủ, phù hợp với quy định pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã tiếp tục bồi thường 15.000.000đ, nhiều hơn mức bồi thường bản án sơ thẩm đã tuyên, là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Đối với các chi phí do lấy nẹp vít ra khỏi cơ thể (nẹp vít này được đưa vào phần tay bị thương tích của bị hại) bị hại được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại, tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại nộp bổ sung thêm tiền khắc phục hậu quả, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên sửa bản án sơ thẩm về phần dân sự.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.
[6] Bị cáo Trương Văn B kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Tuyên bố: bị cáo Trương Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt: áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Trương Văn B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho ông Nguyễn Văn T 45.000.000đ (đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An).
Trả cho bị hại Nguyễn Văn T số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) bị cáo đã bồi thường theo các Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23 số 0000019 ngày 01/11/2024, BLTT/23 số 0000028 ngày 03/01/2025, BLTT/23 số 0000046 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An.
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1, Điều 23; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Văn B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Báo cho người phải thi hành án (bị cáo) và người được thi hành án (người bị hại) biết việc thi hành án về phần dân sự thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thu Hằng |
Bản án số 47/2025/HS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 47/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn B cố ý gây thương tích
