Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH B

Bản án số: 47/2025/HS-PT

Ngày 21/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 10/4/2002, tại P, B ; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh B ; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1, sinh 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; chồng: Hồ Văn B, sinh 1992; con: Có có 03 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi kết hôn vào năm 2019, Nguyễn Thị Thanh N và chồng là Hồ Văn B sống chung với bố mẹ chồng là ông Hồ Văn T (sinh năm 1960) và bà Phan Thị N2 (sinh năm 1960) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Quá trình sinh sống, N nhiều lần mượn tiền bà N2 để chi tiêu trong gia đình nhưng bà N2 không cho thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà N2. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/4/2024, khi mọi người đi vắng, N lén lút vào phòng bà N2 mở tủ quần áo lấy hũ nhựa chứa vàng trang sức được bọc trong giấy lịch. Sau đó N lấy 01 chiếc nhẫn vàng tròn trơn, loại vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ, số vàng còn lại trong hũ nhựa N đem cất lại vị trí ban đầu. Tiếp đến, khoảng 06 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, khi mọi người đi vắng, N lén lút đi vào phòng bà N2 mở tủ đồ lấy hũ nhựa đựng vàng lấy tổng số vàng gồm: 08 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 02 chỉ/01chiếc); 02 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 01 chỉ/01chiếc); 01 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 05 phân); 01 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 05 chỉ); 01 chiếc lách đeo tay (trọng lượng 04 chỉ); 01 chiếc lách đeo tay (trọng lượng 05 chỉ) và 01 dây chuyền (trọng lượng 05 chỉ) tất cả đều vàng 24K.

Sợ bà N2 và gia đình phát hiện nên N lấy chiếc điện thoại OPPO của Hồ Văn B và làm xáo trộn hiện trường để tạo hiện trường giả.

Sau khi lấy trộm tài sản, từ ngày 10/4/2024 đến ngày 18/5/2024, N đã bán số vàng lấy trộm ở nhiều nơi, sử dụng vào mục đích cá nhân, cụ thể như sau: N bán cho 01 hiệu vàng không rõ địa chỉ ở phường B, thị xã H 01 nhẫn vàng 0,5 chỉ được 3.000.000 đồng; bán cho hiệu vàng Ngọc Mười ở thị trấn B, huyện P 03 nhẫn vàng mỗi nhẫn trọng lượng 02 chỉ được 42.000.000 đồng; bán cho hiệu vàng H1 ở thị trấn B, huyện P 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ được 14.000.000 đồng; nhờ Trần Thị Mỹ H1 (sinh năm 2000) bán cho hiệu vàng Minh Cảnh ở thị trấn B, huyện P 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ được 14.000.000 đồng; bán cho các hiệu vàng không rõ địa chỉ ở thành phố Đà Nẵng tổng cộng 04 nhẫn vàng trong đó 01 nhẫn trọng lượng 05 chỉ và 03 nhẫn trọng lượng 02 chỉ được 77.000.000 đồng. Sau khi bán được vàng, N mua lại 01 sợi dây chuyền, 01 sợi lắc đeo tay và 01 đôi bông tai đều bằng vàng, loại vàng 18K của, không rõ trọng lượng hiệu vàng không rõ địa chỉ ở thành phố Đà Nẵng với tổng số tiền 29.000.000 đồng, sau đó bán lại cho chính cửa hàng này được 27.000.000 đồng. Ngày 18/5/2024 N sử dụng số tiền có được sau nhiều lần bán vàng mua 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro giá 10.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO cũ và 01 thẻ sim với tổng số tiền là 2.000.000 đồng, số tiền còn lại sử dụng tiêu xài cá nhân. Số vàng còn lại gồm 01 sợi dây chuyền vàng, trọng lượng 05 chỉ; 01 lắc đeo tay bằng vàng, trọng lượng 05 chỉ; 01 lắc đeo tay bằng vàng, trọng lượng 04 chỉ; 02 chiếc nhẫn tròn trơn bằng vàng, trọng lượng 02 chỉ; 01 chiếc nhẫn tròn trơn bằng vàng, trọng lượng 01 chỉ Nga cất giấu trong tủ lạnh riêng của vợ chồng. Ngày 20/5/2024 do lo sợ việc lấy trộm vàng bị phát hiện nên N đã đến gặp bà N2 nói chuyện và thừa nhận sự việc đã lấy trộm vàng của bà N2. Đồng thời, N đã trả lại cho bà N2 số vàng còn lại và tự nguyện đến Công an xã M khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Tổng tài sản bị bị can chiếm đoạt có trị giá 284.785.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tạm giữ:

  • - 01 sợi dây chuyền bằng vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ, 01 lắc đeo tay bằng vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ, 01 lắc đeo tay bằng vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 04 chỉ; 02 chiếc nhẫn tròn trơn bằng vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ; 01 chiếc nhẫn tròn trơn bằng vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ. (Đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu).
  • - 14 tờ tiền poime có mệnh giá 500.000 đồng;
  • - 01 đồng hồ loại nữ, bằng kim loại màu vàng, mặt tròn;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro;- 01 máy điện thoại cảm ứng, hiệu OPPO màu xanh loại A3s.

Về dân sự: Bị hại Phan Thị N2 và Hồ Văn T đã nhận lại 19 chỉ vàng 24K nên không yêu cầu gì đối với số vàng này. Riêng 20,5 chỉ vàng 24K mà Nguyễn Thị Thanh N đã lấy trộm đem đi bán, bà N2 và ông T yêu cầu N trả lại đủ số lượng, loại vàng hoặc đền bù số tiền tương ứng với giá vàng đã định giá là 7.210.000 đồng/chỉ x 20,5 chỉ = 147.805.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 26/12/2024, Tòa án nhân dân huyện P đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh N;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 07 (B1) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06/01/2025, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N giữ nguyên kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N, sửa bản án sơ thẩm giảm cho bị cáo N còn 04 năm đến 05 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Trong các ngày 10/4/2024 và 24/4/2024, Nguyễn Thị Thanh N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bố mẹ chồng là ông Hồ Văn T và bà Phan Thị N2 nên đã có hành vi lén lút vào phòng bà N2 mở tủ quần áo chiếm đoạt 09 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 02 chỉ/01chiếc); 02 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 01 chỉ/01chiếc); 01 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 05 phân); 01 chiếc nhẫn vàng tròn trơn (trọng lượng 05 chỉ); 01 chiếc lách đeo tay (trọng lượng 04 chỉ); 01 chiếc lách đeo tay (trọng lượng 05 chỉ) và 01 dây chuyền (trọng lượng 05 chỉ) tất cả đều vàng 24K. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 39,5 chỉ vàng 24K trị giá 284.785.000 đồng.

Do đó, Tòa án nhân dân huyện P đã xét xử bị cáo N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tình tiết tăng nặng là bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 07 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nộp bổ sung thêm đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con còn nhỏ đã được chính quyền địa phương xác nhận và đã bồi thường thêm cho người bị hại 02 chỉ vàng được xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 07 năm tù là có phần nghiêm khắc. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục bồi thường cho người bị hại 02 chỉ vàng nên sửa phần dân sự của bản án sơ thẩm về phần bồi thường đối với bị cáo.Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N, sửa bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B đề nghị chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 588 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N. Sửa bản án sơ thẩm.
    1. Xử phạt Nguyễn Thị Thanh N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
    2. Về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh N bồi thường cho người bị hại 18,5 chỉ vàng 24k.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 6.609.000₫ (Sáu triệu sáu trăm lẻ chín ngàn đồng).
  3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1.TANDTC (1);
  • - VKSND tỉnh B (1);
  • - TAND huyện P (3);
  • - VKSND huyện P(1);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện P (1);
  • - Cơ quan THAHS CA huyện P (2);
  • - Chi cục THADS huyện P (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh B (1);
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh B (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Bá Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 47/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh N - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger