Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-PT

Ngày 18 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Toàn.

Các Thẩm phán: Ông Trương Quyết Thắng.

Bà Trần Thị Khánh Vân.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huế – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T và đồng phạm do có kháng của bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phùng Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 24/11/2006 tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Đức H và bà Nguyễn Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tốt. Số CCCD [...]; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ C. Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân P, Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.

Bị cáo Hà Quang H2 không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn thu lợi bất chính nên Phùng Nguyễn Ngọc Anh T có tìm hiểu cách sản xuất pháo qua mạng xã hội để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đầu tháng 12/2024, một tài khoản trên mạng xã hội Zalo tên “Hỏi G” liên hệ với T và hỏi mua của T 40 quả pháo nổ tự chế với giá 2.000.000 đồng để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán. T đồng ý và lên mạng xã hội Tiktok đặt mua 01 kg Natri, 500 gam lưu huỳnh, 500 gam KClO3 và 2,5m dây cháy chậm với tổng số tiền 350.000 đồng. Sau khi nhận được nguyên liệu, T sử dụng âu nhựa, thìa kim loại, kéo, keo dán 502, giấy và sách báo cũ của gia đình để tiến hành sản xuất pháo. Quy trình sản xuất pháo được thực hiện như sau: Phần thuốc pháo T trộn đều các hóa chất đã mua được gồm Natri, Lưu huỳnh, KClO3 (kali clorat) theo tỷ lệ 4-2-6 trong chiếc âu nhựa để làm thuốc pháo, phần vỏ pháo T dùng kéo cắt giấy báo cũ thành kích thước bằng nhau, sau đó dùng tay cuốn lại tạo thành các hình trụ tròn có ruột rỗng ở giữa rồi nhỏ keo cố định tạo thành vỏ pháo. Một đầu vỏ pháo dùng giấy và keo bịt kín lại, phần còn lại để hở. Sau đó T dùng chiếc thìa kim loại múc thuốc pháo cho vào phần ruột rỗng bên trong của vỏ pháo (lượng thuốc pháo cho vào không cố định) rồi cho dây cháy chậm vào, sau đó dùng giấy và keo dán để bịt kín đầu còn lại tạo thành quả pháo nổ hoàn chỉnh. Ban đầu T tự sản xuất pháo một mình được 16 quả và cất vào gầm giường trong phòng ngủ của T. Hai ngày sau, do cần nhiều giấy và sách báo cũ để làm vỏ pháo và biết Hà Quang H2 cũng có nhu cầu sản xuất pháo để đốt, nên T đã nói chuyện với H2 về việc T đang sản xuất pháo để bán và rủ H2 tìm sách báo cũ và cùng T sản xuất pháo, H2 đồng ý. Khoảng 15 giờ ngày 16/12/2024, H2 mang sách báo cũ đến nhà T và giúp T cắt giấy làm vỏ pháo và cho thuốc pháo vào vỏ pháo đã cuốn. T và H2 cùng nhau sản xuất được thêm 24 quả pháo. Các lần sản xuất đều diễn ra tại phòng ngủ của T.

Sau khi sản xuất đủ 40 quả pháo, T trực tiếp cho 34 quả pháo vào 01 thùng bìa cát tông rồi dán kín lại bằng băng dính, 06 quả còn lại T cho vào 01 túi nilon màu trắng rồi cho vào trong 01 túi nilon màu đen. Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 16/12/2024, T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển kiểm soát 21-E1.377.09 của chị Ngô Thị T1 trú cùng thôn với T, rồi chở H2 mang theo pháo vừa sản xuất được đi giao cho khách. Nhưng khi đang đi trên đường thuộc thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái thì bị tổ công tác Công an tỉnh Y phát hiện thu giữ 01 thùng cát tông có chứa 34 cuộn giấy hình trụ, 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng có chứa 06 cuộn giấy hình trụ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus vỏ máy màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus vỏ máy trắng vàng và 01 xe mô tô Wave Alpha màu xanh ngọc biển số 21-E1 377.09. Cơ quan điều tra đã lập biên bản, tạm giữ tang vật và phương tiện liên quan theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 9911/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của V Bộ C kết luận: “Tất cả mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo nổ. Tổng khối lượng pháo nổ là 13,6 kg (mười ba phẩy sáu kilôgam)”.

Tại Kết luận giám định số 1882/KL-KTHS ngày 27/3/2025 của Phòng K Công an thành phố H đối với các mẫu vật gửi giám định; mẫu A1 là chiếc điện thoại di động thu giữ của Hà Quang H2; mẫu A2 là chiếc điện thoại thu giữ của Phùng Nguyễn Ngọc Anh T kết luận: Trong khoảng thời gian từ 18/11/2024 đến 17/12/2024:

  1. Mẫu cần giám định A1: Không trích xuất được tin nhắn Mesenger trong điện thoại gửi giám định (do phần mềm không hỗ trợ). Tìm thấy: 85 tin nhắn SMS, 335 tin nhắn Zalo, 1181 file ảnh trong điện thoại gửi giám định. Không tìm thấy tin nhắn Tiktoc trong điện thoại gửi giám định. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong sim kèm theo.
  2. Mẫu cần giám định A2: Không tiến hành phục hồi, trích xuất dữ liệu theo yêu cầu giám định trong điện thoại gửi giám định (do điện thoại gửi giám định không kết nối được với thiết bị chuyên dụng).

Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai đã xét xử như sau: Tuyên bố các bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T, Hà Quang H2 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Quang H2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hà Quang H2 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lào Cai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Ngoài ra án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/8/2025, bị cáo P1 Nguyễn Ngọc Anh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T rút kháng cáo về phần xin giảm nhẹ hình phạt tù, giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T.

- Chấp nhận nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai như sau: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo P1 Nguyễn Ngọc Anh T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận: Đầu tháng 12/2024, một tài khoản trên mạng xã hội Zalo tên “Hỏi G” liên hệ với T và hỏi mua của T 40 quả pháo nổ tự chế với giá 2.000.000 đồng để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán. Do muốn có tiền tiêu sài cá nhân, T đồng ý và lên mạng xã hội Tiktok đặt mua 01 kg Natri, 500 gam lưu huỳnh, 500 gam KClO3 và 2,5m dây cháy chậm với tổng số tiền 350.000 đồng. Sau khi nhận được nguyên liệu, T tự sản xuất pháo một mình được 16 quả và cất vào gầm giường trong phòng ngủ của bị cáo. Hai ngày sau, do cần nhiều giấy và sách báo cũ để làm vỏ pháo và biết Hà Quang H2 cũng có nhu cầu sản xuất pháo để đốt, nên T đã rủ H2 tìm sách báo cũ và cùng T sản xuất pháo, H2 đồng ý và mang sách báo cũ đến nhà T cùng T sản xuất được thêm 24 quả pháo. Các lần sản xuất pháo đều diễn ra tại phòng ngủ của T. Sau khi sản xuất đủ 40 quả pháo, khoảng 17 giờ 10 phút ngày 16/12/2024, T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha biển kiểm soát 21-E1.377.09 của chị Ngô Thị T1 trú cùng thôn với T, rồi chở H2 mang theo pháo vừa sản xuất được đi giao cho khách. Nhưng khi đang đi trên đường thuộc thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái thì bị tổ công tác Công an tỉnh Y phát hiện, thu giữ toàn bộ tang vật và phương tiện liên quan như nội dung bản án hình sự sơ thẩm đã nêu ở trên. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”. Vì vậy, các bị cáo đã bị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai xét xử về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” với tình tiết định khung “Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1]. Đối với kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt tù: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin rút kháng cáo đối với nội dung này. Xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 342 của Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo mà bị cáo đã rút tại phiên tòa.

[3.2]. Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình chuẩn bị xát xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm được chứng cứ mới đó là xác nhận của chính quyền địa phương về việc bố đẻ bị cáo bị bệnh tai biến, không tự phục vụ bản thân và không đủ sức khỏe để lao động, bị cáo có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huy chương, bản thân bị cáo đã tham gia hoạt động tình nguyện năm 2025 tại xã nơi bị cáo cư trú, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Sau khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, cung cấp thông tin về nơi thực hiện việc sản xuất pháo nổ, giúp cho Cơ quan điều tra chứng minh tội phạm, dẫn tới việc giải quyết vụ án được thực hiện nhanh hơn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nên kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ được chấp nhận.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T.
  2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T về việc xin được hưởng án treo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 06/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai như sau:

Tuyên bố bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Lào Cai;
  • - CQTHAHS, CQĐT CA tỉnh Lào Cai;
  • - TAND, VKSND KV 3 - Lào Cai;
  • - Phòng THADS KV 3 - Lào Cai;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - UBND xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-PT ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về hình sự phúc thẩm (sản xuất, buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 47/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Sản xuất, buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phùng Nguyễn Ngọc Anh Tuấn bị VKSND tỉnh Lào Cai truy tố về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger