Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HS-PT

Ngày: 02/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Đào Vi và ông Huỳnh Trọng Cẩn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Phước Ngưỡng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với bị Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Văn T

sinh ngày 24 tháng 7 năm 1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); số căn cước công dân: [...], cấp ngày 17/4/2021, nơi cấp: Cục Q lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: Tổ G, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T1 (đã chết) và bà Phan Thị X; có vợ là Phan Thị B, sinh năm 1986, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 20/4/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản" theo Bản án số: 18/2022/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2023; án phí HSST ngày 01/6/2022),

Về nhân thân:

  • Ngày 23/9/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 30 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích" theo Bản án số: 98/2002/HSST; chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2004; án phí HSST ngày 07/8/2003.
  • Ngày 10/5/2021, bị Công an thị xã H xử phạt hành chính 750.000 đồng, về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số: 7627/QĐ-XPHC).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/8/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (nay là thành phố H). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 50 phút, ngày 25/8/2024, Trần Văn T đi ngang qua nhà bà Nguyễn Thị Hồng V, tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; phát hiện cửa sau không khỏa nên T đột nhập vào nhà lấy trộm 01 cái điện thoại Iphone 11 promax của chị Hoàng Thị Thúy T2 và 01 Iphone 12 promax của chị Hoàng Thị Thùy L (đều là con ruột của bà V) và 01 túi xách bằng vải màu xám của bà V, bên trong có số tiền 10.000.000 đồng, 01 sợi dây chuyền và 01 nhẫn bằng vàng, cùng giấy tờ tùy nhân của bà V, rồi tẩu thoát.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/8/2024, T mang điện thoại Iphone 12 promax đến cửa hàng Đ, địa chỉ B A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H) bán cho anh Nguyễn Đình P, với giá 1.800.000 đồng.

Đến khoảng 05 giờ 45 phút ngày 27/8/2024, T đem điện thoại Iphone 11 promax đến của hàng điện thoại G, địa chỉ B đường C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) bán cho chị Trần Thị Ngọc M, với giá 2.000.000 đồng.

*Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro max, màu xám, có số IMEI: 356714111192528;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu xanh rêu, có số IMEI: 353905102020412;
  • - 01 túi xách dạng túi đeo chéo màu xám, bằng vải, có dây đeo màu xám;
  • - 01 thẻ Căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 giấy chứng minh nhân dân, đều mang tên Nguyễn Thị Hồng V;
  • - 01 túi vải màu đỏ;
  • - 01 sợi dây bằng kim loại, màu vàng dài 17,5cm;
  • - 01 nhẫn tròn bằng kim loại, màu vàng có gắn hạt chất màu trắng hình chóp nón và nhiều hạt chất nhỏ màu trắng.

Hiện cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ vật chứng thu giữ cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận giám định số: 2025/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, V1 kết luận:

  • - 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, gửi giám định có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng trung bình của từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 21,7%; bạc là 17,3%; khối lượng mẫu là 2,32 gam.
  • Phần kim loại màu vàng của chiếc nhẫn, gửi giám định có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng trung bình của từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 23,3%; bạc là 15,7%; khối lượng mẫu là 2,68 gam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HDĐGTS ngày 30/8/2024 của Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro max, màu xám, có số IMEI: 356714111192528 đã qua sử dụng, có giá trị: 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu xanh rêu, có số IMEI: 353905102020412, có ốp nhựa màu trắng kèm theo, đã qua sử dụng, có giá trị: 6.000.000 đồng; 01 túi xách dạng túi đeo chéo màu xám, bằng vải, có dây đeo màu xám, đã qua sử dụng, có giá trị: 20.000 đồng. Tổng giá trị định giá là: 13.020.000 đồng (Mười ba triệu không trăm hai mươi ngàn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 73/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2024 của Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có chất lượng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 21,7%; bạc là 17,3%; khối lượng mẫu là 2,32 gam (tương đương 0,6 chỉ), có giá trị: 2.659.200 đồng; 01 chiếc nhẫn có đính các hạt chất màu trắng làm bằng kim loại vàng, có chất lượng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 23,3%; bạc là 15,7%; khối lượng mẫu là 2,12 gam. (tương đương 0,56 chỉ), có giá trị: 2.481.920 đồng. Tổng giá trị định giá là: 5.141.120 đồng (Năm triệu một trăm bốn mươi mốt ngàn một trăm hai mươi đồng).

Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 28.161.120 đồng (Hai mươi tám triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn T cùng gia đình đã bồi thường cho của bà Nguyễn Thị Hồng V, số tiền 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Đình P số tiền 1.800.000 đồng và chị Trần Thị Ngọc M, số tiền 2.000.000 đồng. Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), đã quyết định:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 08 (T3) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 30/8/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 21/12/2024, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T là đúng quy định nên Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết và xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, giữa nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo vào ngày 21/12/2024 nên kháng cáo của bị cáo Trần Văn T trong hạn luật định, hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 50 phút, ngày 25/8/2024, Trần Văn T đi ngang qua nhà bà Nguyễn Thị Hồng V phát hiện cửa sau không khóa nên bị cáo đã lẻn vào nhà, lén lút chiếm đoạt 01 cái điện thoại Iphone 11 promax của chị Hoàng Thị Thúy T2; 01 Iphone 12 promax của chị Hoàng Thị Thùy L và 01 túi xách bằng vải của bà Nguyễn Thị Hồng V bên trong có số tiền 10.000.000 đồng, 01 sợi dây chuyền và 01 nhẫn bằng vàng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 28.161.120 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Trần Văn T cùng một lúc đã chiếm đoạt nhiều loại tài sản của 02 người. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Mặt khác, bị cáo là đối tượng có nhân thân rất xấu đã 01 lần bị xử phạt hành chính, 02 lần bị kết án, trong đó đang chịu 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, nên cần thiết phải xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe, phòng ngừa.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 08 tháng tù là đúng mức, đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, mà giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND thành phố H tại phiên toà.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 30/8/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA thành phố Huế;
  • - CQTHAHS CA thành phố Huế;
  • - Sở Tư pháp thành phố Huế;
  • - TAND thị xã Hương Thủy;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; Tòa Hình sự; Tổ Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Tôn Minh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 47/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger