trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2025

V/v “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hải.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Mạnh.

Ông Trần Ngọc Đương.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 6- Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6- Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.
  2. Bị đơn: Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.
    • Anh Bùi Văn D, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.
    • Chị Bùi Thị L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu T, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nay là tổ dân phố T, phường T, tỉnh Thái Nguyên.

(Bà N, anh Q, anh D, chị L có mặt, ông N1 vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày như sau:

    Bà và ông N1 trước đây là vợ chồng và đã giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 04/2024/QĐCNHGT-HNGĐ ngày 01/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Khi giải quyết ly hôn, bà và ông N1 tự thoả thuận chia tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nhưng sau đó bà và ông N1 không tự thoả thuận được mà xảy ra tranh chấp. Nên bà đề nghị Toà án chia tài sản chung của bà và ông N1 trong thời kỳ hôn nhân đối với thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000. Nguồn gốc thửa đất trên là của bố mẹ ông N1 để lại. Bà và ông N1 đã được bố mẹ ông N1 cho đất và sử dụng ổn định từ năm 1993 đến nay. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia đình bà có bà, ông N1, 03 con chung của bà và ông N1 là cháu Q (sinh năm 1994), cháu D (sinh năm 1996), cháu L (sinh năm 1998). Bà xác định thửa đất trên là tài sản chung của cả hộ gia đình bà gồm bà, ông N1 và 3 người con, cả 5 người trong hộ gia đình bà đều có quyền ngang nhau với thửa đất này. Thửa đất đã được Tòa án tiến hành xem xét thẩm định và định giá tài sản. Bà nhất trí với kết quả xem xét thẩm định sau khi đo đạc thực tế là 966,2m², tăng thêm so với diện tích được cấp trong giấy chứng nhận là 246,2m² phần diện tích đất tăng thêm này bà xác định vẫn thuộc phần diện tích đất mà hộ gia đình bà đã được cấp giấy CNQSDĐ, vì từ khi được cấp giấy CNQSDĐ năm 2000 hộ gia đình bà sử dụng ổn định, đúng theo diện tích đất được cấp, không mua bán, nhận tặng cho hay lấn chiếm của các hộ xung quanh nên đề nghị chia theo diện tích đất đo đạc thực tế.

    Trên thửa đất có các tài sản: 01 nhà chính xây diện tích 121,8m²; sân bê tông trước nhà diện tích 57m²; bếp xây lợp ploximang diện tích 40,2m²; cổng sắt 02 cánh và trụ cổng xây gạch chỉ lát vữa xi măng, xung quanh đất có tường rào xây gạch xỉ. Tài sản trên đất bà không đề nghị chia. Tài sản nằm trên phần đất của ai thì người đó được sở hữu và không phải ai phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ai.

    Cụ thể, bà đề nghị Toà án chia như sau: Thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn) sau khi đo đạc thực tế là 966,2m² sẽ để lại 1 phần diện tích đất làm lối đi chung theo lối cổng đi chung thực tế hiện nay đang đi diện tích đã được đo đạc là 157m². Phần đất còn lại chia làm 5 phần, diện tích đất có các tài sản trên đất là nhà xây, sân, bếp giao cho ông N1 được sử dụng và sở hữu, tiếp đến phần đất của anh Q, anh D, của bà và của chị L, sau khi phân chia đất không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai.

  2. Tại đơn bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án bị đơn ông ông Bùi Văn N1 trình bày như sau:

    Ông và bà Nguyễn Thị N đã giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 04/2024/QĐCNHGT-HNGĐ ngày 01/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Khi ly hôn, ông bà chưa giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng. Ông và bà N có tài sản chung là thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000. Nguồn gốc đất do bố mẹ ông để lại. Bà N đề nghị chia tài sản chung đối với thửa đất này, ông nhất trí. Ông nhất trí để lại 1 phần diện tích đất làm lối đi chung theo lối cổng đi chung thực tế hiện nay đang đi diện tích đã được đo đạc là 157m². Diện tích đất còn lại chia đất thành 5 phần, phần diện tích đất có tài sản trên đất gồm nhà xây, sân, bếp ông đề nghị giao cho ông được sử dụng và sở hữu, tiếp đến lần lượt là phần đất của anh Q, anh D, của bà N và của chị L. Sau khi phân chia đất không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai. Tài sản trên đất ông N1 không đề nghị chia, tài sản nằm trên phần đất của ai thì người đó được sở hữu.

    Ông nhất trí với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Diện tích đất đo theo hiện trạng là 966,2m², tăng 246,2m², ông nhất trí và xác định diện tích đất tăng lên vẫn thuộc thửa đất 166b vì từ khi được bố mẹ cho đất cho đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đến nay, thửa đất được gia đình ông sử dụng ổn định, không có biến động, không khai hoang thêm hoặc mua bán nhận chuyển nhượng thêm. Tuy nhiên, ông chỉ đề nghị Toà án phân chia đối với phần diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp là 720m², phần diện tích đất 246,2m² tăng lên so với giấy CNQSDĐ, ông không đồng ý chia trong vụ án này mà ông đề nghị để lại sau này khi nào cháu Q kết hôn thì ông mới chia đều cho các con và tạm thời ông đề nghị được quản lý phần diện tích đất tăng thêm này.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn Q, anh Bùi Văn D, chị Bùi Thị L đều trình bày:

    Các anh chị là con bà N ông N1. Bà N ông N1 có tài sản chung là thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000. Nguồn gốc đất do ông bà nội của các anh chị để lại. Khi bà N ông N1 làm nhà anh chị có công sức đóng góp vào việc làm nhà nhưng không có đề nghị gì về công sức. Nay bà N đề nghị chia tài sản chung đối với thửa đất 166b, bà N ông N1 có quan điểm chia cho các anh chị được nhận 1 phần đất thì các anh chị nhất trí nhận đất của bố mẹ cho. Tại phiên toà, các anh chị đều trình bày: Nếu được chia đất như thế nào thì các anh chị nhận như thế, không có đề nghị cụ thể về việc chia cho anh chị nhận bao nhiêu đất. Về chi phí tố tụng, các anh chị tự nguyện chịu toàn bộ cho bà N và ông N1. Về án phí: Các anh chị tự nguyện chịu án phí đối với phần diện tích đất được chia.

    Tại biên bản xem xét thâm định và định giá tài sản ngày 24/6/2025 đã xác định: Thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m2 đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, sau khi đo đạc thực tế là 966,2m², định giá đất ở là 2.500.000đ/m², đất vườn là 1.000.000đ/m²

    Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà chính xây trên đất, diện tích 121,8m²; sân bê tông trước nhà diện tích 57m², bếp xây lợp ploximang diện tích 40,2m², cổng sắt 02 cánh và trụ cổng xây gạch chỉ, lát vữa xi măng. Các đương sự không đề nghị giải quyết tài sản trên đất. Tài sản nằm trên phần đất giao cho ai thì người đó sử dụng.

    - Tại biên bản xác minh ngày 24/6/2025 Ủy ban nhân dân xã T cung cấp: Thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m2 đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, sau khi đo đạc thực tế là 966,2m² tăng thêm là 246,2m², được xác định là đất vườn, lý do tăng thêm là so sai số đo đạc vì hộ ông N1 sử dụng đất ổn định, không mua bán, nhận tặng cho hay lấn chiếm của các hộ xung quanh kể từ khi được cấp giấy CNQSDĐ năm 2000 đến nay. Các hộ giáp ranh với hộ ông N1 bà N đều đã được cấp đổi GCNQSD đất theo bản đồ địa chính VN B. Căn cứ bản đồ 299 và hiện trạng đất của gia đình ông N1 thì xác định vị trí đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phía sau nhà xây, theo chiều ngang thửa đất.

    - Tại biên bản xác minh ngày 05/9/2025 Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp: Thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện C nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, sau khi đo đạc thực tế là 966,2m² tăng thêm là 246,2m² lý do tăng thêm là so sai số đo đạc giữa phương pháp đo trước đây là đo bằng thước dây và đo theo phương pháp đo hiện nay là đo bằng máy và phần diện tích đất tăng thêm được xác định là đất vườn và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đề nghị.

    - Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6- Phú Thọ phát biểu ý kiến:

    Về thủ tục tố tụng: Qúa trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện quy định của pháp luật. Qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Về nội dung vụ án đề xuất hướng giải quyết như sau:

    Đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 2 điều 147, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228.

    Căn cứ điều 33, điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;

    Điểm b khoản 5, điểm a khoản 7 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Xử:

    [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

    Xác định bà N và ông N1 có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là: Thửa đất số 166b, tờ bản đồ số 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở và 320m² đất vườn), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R076955 cho hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, địa chỉ thửa đất tại: Khu G, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.

    Chia tài sản chung của bà N và ông N1 đối với thửa đất số 166b, tờ bản đồ số 24 (BĐ 299), diện tích 720m², trong đó có 400m² đất ở và 320m² đất vườn, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R076955 cho hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, địa chỉ thửa đất tại: Khu G, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.

    Cụ thể như sau:

    • + Giao cho ông N1 được quyền quản lý sử dụng 185,2m² đất (trong đó 124m² đất ở, 61,2m² đất vườn) theo các chỉ giới 21,22,23,24,27,28,21 trị giá: 124m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 310.000.000đồng, 61,2m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 61.200.000đồng, tổng trị giá = 371.200.000đồng. Trên đất có tài sản là 01 nhà xây diện tích 121,8m²; sân bê tông trước nhà diện tích 57m².
    • + Giao cho bà N được quyền quản lý sử dụng 86,8m² đất (trong đó 69m² đất ở, 17,8m² đất vườn) theo các chỉ giới 30,32,31,34,30, trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 17,8m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 17.800.000đồng, tổng trị giá = 190.300.000đồng.
    • + Giao cho anh Q được quyền quản lý sử dụng 100,8m² đất (trong đó 69m² đất ở, 31,8m² đất vườn) theo các chỉ giới 27,28,29,33,27 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 31,8m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 31.800.000đồng, tổng trị giá = 204.300.000đồng.
    • + Giao cho anh D được quyền quản lý sử dụng 102,1m² đất (trong đó 69m² đất ở, 33,1m² đất vườn) theo các chỉ giới 29,33,32,30,29 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 33,1m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 33.100.000đồng, tổng trị giá = 205.600.000đồng.
    • + Giao cho chị L được quyền quản lý sử dụng 88,1m² đất (trong đó 69m² đất ở, 19,1m² đất vườn) theo các chỉ giới 31,34,13,12,31 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m2 = 172.500.000đồng, 19,1m² đất vườn x 1.000.000đ/m2 = 19.100.000đồng, tổng trị giá = 191.600.000đồng.
    • + Ghi nhận sự tự nguyện của bà N và ông N1 về việc để diện tích 157,0m² đất vườn để làm lối đi chung theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,31,32,33,27,24,25,26,1. Trên đất có cổng sắt 02 cánh và trụ cổng xây gạch chỉ, lát vữa xi măng. (Như sơ đồ trích đo kèm theo)

    Không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai do các đương sự không yêu cầu.

    Các đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định bản án của Tòa án.

    [2] Tạm giao cho bà N: 123,1m² đất vườn theo chỉ giới 13,14,15,16,17,30,34,13. Tạm giao cho ông N1: 123,1m² đất vườn theo chỉ giới 17,18,19,20,21,28,29,30,17, trên đất có 01 bếp xây diện tích 40,2m²

    Bà N và ông N1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đề nghị làm thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật.

    Về án phí: Do anh Q, anh D, chị L xin tự nguyện chịu án phí đối với phần diện tích đất được nhận nên bà N, ông N1 chịu án phí đối với diện tích đất được chia theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    Bà và ông N1 ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các bên tham gia hoà giải tại Toà án số 04/2024/QĐCNHGT-HNGĐ ngày 01/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Bà N có đơn khởi kiện đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với ông N1, ông N1 cư trú tại xã V, tỉnh Phú Thọ. HĐXX xác định đây là vụ án “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê nay là Toa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

    Tại phiên toà bị đơn ông Bùi Văn N1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông N1.

  2. Về nội dung vụ án:

    Bà N và ông N1 đều xác định vợ chồng có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là thửa đất số 166b, tờ bản đồ số 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở và 320m² đất vườn), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R076955 cho hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000. Đối với yêu cầu chia tài sau khi ly hôn của bà N, HĐXX nhận thấy:

    Bà N và ông N1 đều nhất trí đề nghị Toà án chia tài sản chung của bà N và ông N1 đối với thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Khu G, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000 (Sau đây gọi là thửa đất 166b). Và đều không đề nghị chia tài sản trên đất là 01 nhà chính xây diện tích 121,8m²; sân bê tông trước nhà diện tích 57m²; bếp xây lợp ploximang diện tích 40,2m²; cổng sắt 02 cánh và trụ cổng xây gạch chỉ lát vữa xi măng, xung quanh đất có tường rào xây gạch xỉ, tài sản nằm trên phần đất chia cho ai thì người đó được sở hữu. Bà N ông N1 nhất trí với giá đất theo biên bản định giá tài sản ngày 24/6/2025 là 2.500.000đồng/m² đất ở, đất vườn là 1.000.000đồng/m² và thống nhất để 1 phần diện tích đất làm lối đi chung theo lối cổng đi chung thực tế hiện nay đang đi diện tích đã được đo đạc là 157m². Phần đất còn lại chia làm 5 phần, phần diện tích đất và các tài sản có trên đất gồm nhà xây, sân, bếp cho ông N1 được sử dụng và sở hữu, lần lượt đến phần đất của anh Q, anh D, của bà N và của chị L, sau khi phân chia đất không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai. Như vậy, Bà N và ông N1 đã thống nhất về cách chia nhưng không thống nhất được về diện tích chia. Theo đó bà N đề nghị chia thửa đất theo diện tích đo đạc thực tế là 966,2m² tăng thêm so với diện tích được cấp trong giấy chứng nhận là 246,2m². Còn ông N1 đề nghị chia đối với phần diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp là 720m², phần diện tích đất tăng thêm theo đo đạc thực tế là 246,2m², ông không nhất trí chia mà đề nghị được giao quản lý sử dụng.

    Bà N và ông N1 đều xác định thửa đất có nguồn gốc của bố mẹ đẻ ông N1 cho bà N và ông N1 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 27/9/2000 cho hộ ông Bùi Văn N1. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 166b: Cụ thể đơn đăng ký quyền sử dụng đất ngày 07/3/2000 và sổ địa chính của UBND xã T (cũ) trang số 37 đều thể hiện tên chủ sử dụng đất là vợ chồng ông N1 và bà N. Như vậy mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Bùi Văn N1 nhưng HĐXX xác định đây là tài sản chung của bà N và ông N1 hình thành trong thời kỳ hôn nhân, bà N và ông N1 có quyền định đoạt ngang nhau đối với thửa đất này nên việc bà N ông N1 tự nguyện chia đất cho các con là ý chí tự nguyện của ông bà, phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

    Đối với phần diện tích đất tăng thêm, Toà án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T nay là xã V và chi nhánh Văn phòng Đ đều xác định diện tích đất tăng thêm theo đo đạc thực tế là 246,2m² là do sai số đo đạc giữa phương pháp đo trước đây là đo bằng thước dây và đo theo phương pháp đo hiện nay là đo bằng máy và phần diện tích đất tăng thêm được xác định là đất vườn và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu công dân có đề nghị. Phần diện tích đất tăng thêm có vị trí nằm phía sau nhà xây của bà N ông N1 hiện tại, có chỉ giới 13,14,15,16,17,18,19,20,21,28,29,30,34,13, trên đất có 01 bếp xây diện tích 40,2m². Như vậy đủ căn cứ xác định diện tích đất tăng thêm thuộc quyền sử dụng của bà N ông N1, nhưng do chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không phân chia mà tạm giao cho bà N và ông N1 mỗi người được sử dụng 1 nửa là phù hợp. Bà N và ông N1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đề nghị làm thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật.

    Bà N ông N1 đều thống nhất ông N1 được sử dụng phần diện tích đất có nhà, sân, bếp. Nếu giao cho ông N1 phần diện tích này thì ông N1 sẽ được chia diện tích đất nhiều hơn bà N, do nguồn gốc đất là của bố mẹ ông N1 để lại nên việc ông N1 được sử dụng diện tích đất nhiều hơn là phù hợp nên cần ghi nhận và cần giao cho ông N1 được hưởng diện tích đất ở phù hợp với diện tích nhà xây là 124m² đất ở. Diện tích đất ở còn lại là 276m² chia cho bà N, anh Q, anh D, chị L mỗi người 69m². Do bếp xây nằm trên vị trí phần diện tích đất tăng thêm, nên chỉ chia cho ông N1 diện tích đất có nhà, sân. Phần diện tích đất tăng thêm có bếp xây, tạm giao cho ông N1 sử dụng. Tạm giao cho bà N phần diện tích đất tăng thêm không có tài sản trên đất.

    Như vậy, xác định tài sản chung của bà N và ông N1 để chia là thửa đất 166b, tờ bản đồ 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở, 320m² đất vườn) trị giá: 400m² đất ở x 2.500.000đồng = 1.000.000.000, 320m² đất vườn x 1.000.000đồng = 320.000.000đồng, tổng trị giá thửa đất = 1.320.000.000đồng, được chia làm 6 phần, cụ thể như sau:

    • + Giao cho ông N1 được quyền quản lý sử dụng 185,2m² đất (trong đó 124m² đất ở, 61,2m² đất vườn) theo các chỉ giới 21,22,23,24,27,28,21 trị giá: 124m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 310.000.000đồng, 61,2m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 61.200.000đồng, tổng trị giá = 371.200.000đồng. Trên đất có tài sản là 01 nhà xây diện tích 121,8m²; sân bê tông trước nhà diện tích 57m². (Có sơ đồ kèm theo).
    • + Giao cho bà N được quyền quản lý sử dụng 86,8m² đất (trong đó 69m² đất ở, 17,8m² đất vườn) theo các chỉ giới 30,32,31,34,30, trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 17,8m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 17.800.000đồng, tổng trị giá = 190.300.000đồng. (Có sơ đồ kèm theo).
    • + Giao cho anh Q được quyền quản lý sử dụng 100,8m² đất (trong đó 69m² đất ở, 31,8m² đất vườn) theo các chỉ giới 27,28,29,33,27 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 31,8m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 31.800.000đồng, tổng trị giá = 204.300.000đồng. (Có sơ đồ kèm theo).
    • + Giao cho anh D được quyền quản lý sử dụng 102,1m² đất (trong đó 69m² đất ở, 33,1m² đất vườn) theo các chỉ giới 29,33,32,30,29 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 33,1m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 33.100.000đồng, tổng trị giá = 205.600.000đồng. (Có sơ đồ kèm theo).
    • + Giao cho chị L được quyền quản lý sử dụng 88,1m² đất (trong đó 69m² đất ở, 19,1m² đất vườn) theo các chỉ giới 31,34,13,12,31 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m2 = 172.500.000đồng, 19,1m² đất vườn x 1.000.000đ/m2 = 19.100.000đồng, tổng trị giá = 191.600.000đồng. (Có sơ đồ kèm theo).
    • + Lối đi chung diện tích 157,0m² đất vườn theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,31,32,33,27,24,25,26,1. Trên đất có cổng sắt 02 cánh và trụ cổng xây gạch chỉ, lát vữa xi măng (Có sơ đồ kèm theo).

    Không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai.

    Phần diện tích đất vườn tăng thêm 246,2m² tạm giao cho bà N và ông N1 mỗi người được sử dụng 1 nửa như sau: Tạm giao cho bà N: 123,1m² đất vườn theo chỉ giới 13,14,15,16,17,30,34,13 (Có sơ đồ kèm theo). Tạm giao cho ông N1: 123,1m² đất vườn theo chỉ giới 17,18,19,20,21,28,29,30,17, trên đất có 01 bếp xây diện tích 40,2m² (Có sơ đồ kèm theo).

  3. Về chi phí tố tụng: Bà N đã tạm ứng chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 13.280.000đồng. Anh Q, anh D, chị L tự nguyện chịu số tiền này thay cho bà N và ông N1 nên cần ghi nhận. Anh Q, anh D, chị L mỗi người có trách nhiệm hoàn trả cho bà N 4.426.600đồng.
  4. Về án phí: Tại phiên toà, anh Q, anh D, chị L xin tự nguyện chịu án phí đối với phần diện tích đất được nhận là phù hợp nên cần chấp nhận. Bà N, ông N1 phải chịu án phí đối với diện tích đất bà N ông N1 được chia theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 điều 147, điều 157, điều 165, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Căn cứ điều 33, điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
    1. Xác định tài sản chung của bà N và ông N1 trong thời kỳ hôn nhân là thửa đất số 166b, tờ bản đồ số 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở và 320m² đất vườn), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R076955 cho hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, địa chỉ thửa đất tại: Khu G, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.
    2. Chia tài sản chung của bà N và ông N1 đối với thửa đất số 166b, tờ bản đồ số 24 (BĐ 299), diện tích 720m² (400m² đất ở và 320m² đất vườn), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R076955 cho hộ ông Bùi Văn N1 ngày 27/9/2000, địa chỉ thửa đất tại: Khu G, xã T, huyện S, tỉnh Phú Thọ nay là khu Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ.

      Cụ thể như sau:

      • + Giao cho ông N1 được quyền quản lý sử dụng 185,2m² đất (trong đó 124m² đất ở, 61,2m² đất vườn) theo các chỉ giới 21,22,23,24,27,28,21 trị giá: 124m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 310.000.000đồng, 61,2m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 61.200.000đồng, tổng trị giá = 371.200.000đồng. Trên đất có tài sản là 01 nhà xây diện tích 121,8m²; sân bê tông trước nhà diện tích 57m².
      • + Giao cho bà N được quyền quản lý sử dụng 86,8m² đất (trong đó 69m² đất ở, 17,8m² đất vườn) theo các chỉ giới 30,32,31,34,30, trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 17,8m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 17.800.000đồng, tổng trị giá = 190.300.000đồng.
      • + Giao cho anh Q được quyền quản lý sử dụng 100,8m² đất (trong đó 69m² đất ở, 31,8m² đất vườn) theo các chỉ giới 27,28,29,33,27 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 31,8m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 31.800.000đồng, tổng trị giá = 204.300.000đồng.
      • + Giao cho anh D được quyền quản lý sử dụng 102,1m² đất (trong đó 69m² đất ở, 33,1m² đất vườn) theo các chỉ giới 29,33,32,30,29 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 33,1m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 33.100.000đồng, tổng trị giá = 205.600.000đồng.
      • + Giao cho chị L được quyền quản lý sử dụng 88,1m² đất (trong đó 69m² đất ở, 19,1m² đất vườn) theo các chỉ giới 31,34,13,12,31 trị giá: 69m² đất ở x 2.500.000đ/m² = 172.500.000đồng, 19,1m² đất vườn x 1.000.000đ/m² = 19.100.000đồng, tổng trị giá = 191.600.000đồng.
      • + Ghi nhận sự tự nguyện của bà N và ông N1 về việc để diện tích 157,0m² đất vườn đất làm lối đi chung theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,31,32,33,27,24,25,26,1. Trên đất có cổng sắt 02 cánh và trụ cổng xây gạch chỉ, lát vữa xi măng. (Vị trí các thửa đất theo bản trích đo hiện trạng kèm theo bản án).

      Không ai phải thanh toán chênh lệch cho ai do các đương sự tự nguyện không yêu cầu.

      Các đương sự có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định bản án của Tòa án.

    3. Tạm giao diện tích đất tăng thêm cho bà N: 123,1m² đất vườn theo chỉ giới 13,14,15,16,17,30,34,13 (Như bản trích đo kèm theo). Tạm giao diện tích đất tăng thêm cho ông N1: 123,1m² đất vườn theo chỉ giới 17,18,19,20,21,28,29,30,17, trên đất có 01 bếp xây diện tích 40,2m² (Như bản trích đo kèm theo).

      Bà N và ông N1 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đề nghị làm thủ tục để được công nhận quyền sử dụng đất khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật.

  2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Q, anh D, chị L về việc chịu chi phí tố tụng thay cho bà N và ông N1. Bà N đã tạm ứng chi phí tố tụng về đo vẽ, xem xét thẩm định tại chô và định giá tài sản: 13.280.000đồng (Mười ba triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng). Anh Q, anh D, chị L mỗi người có trách nhiệm hoàn trả cho bà N 4.426.600đồng (Bốn triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).
  3. Về án phí:

    Bà N chịu 9.515.000đồng (Chín triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự về chia tài sản chung nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà số 0005144 ngày 15/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Phú Thọ, bà N còn phải nộp 9.215.000đồng (Chín triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng) tiền án phí.

    Ông N1 chịu 18.560.000đồng (Mười tám triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự về chia tài sản chung.

    Anh Q chịu 10.215.000đồng (Mười triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự về chia tài sản chung.

    Anh Dũng chịu 10.280.000đồng (Mười triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự về chia tài sản chung.

    Chị L chịu 9.580.000đồng (Chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự về chia tài sản chung.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 6- Phú Thọ;
  • - VKSND Tỉnh Phú Thọ
  • - Phòng THADS Khu vực 6- Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ về tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger