trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 28/3/2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Thanh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Trần Thanh Tuấn

Ông Mai Quốc Bảo

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 384/2024/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N xây dựng hôn nhân năm 2005, hôn nhân tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn 26/8/2013. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh N xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hiểu nhau, không thông cảm cho nhau. Hiện nay, chị T nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phạm Văn N

Về con chung: Chị T và anh N chung sống với nhau có 02 người con chung là Phạm Thị Ái D, sinh ngày 05/12/2009 và Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 06/10/2019. Khi ly hôn T yêu cầu được tiếp tục nuôi cả 02 người con. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh N tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn anh Phạm Văn N đã được Toà án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cư; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh N vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Toà án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung:
    • + Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn N có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa chị T và anh N là hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Phạm Văn N
    • + Về con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Thị Ái D, sinh ngày 05/12/2009 và Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 06/10/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
    • + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. giải quyết.

+ Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về Thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Phạm Văn N, anh N có địa chỉ tại huyện P. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, chị T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh N là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh N xây dựng hôn nhân năm 2016, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, do đó hôn nhân của chị T, anh N là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T và anh N cả hai đều bỏ mặt nhau không gặp nhau để hàn gắn lại hôn nhân, chị T xác định không còn tình cảm với anh N, không thể tiếp tục chung sống với nhau được. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị T, anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh N.
  3. Về con chung: Vợ chồng chị T và anh N có 02 người con chung là Phạm Thị Ái D, sinh ngày 05/12/2009 và Phạm Thị Khả Á, sinh ngày 06/10/2019. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

    Theo khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

    3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

    Xét thấy, từ lúc sống ly thân đến nay, cháu Ái D và cháu Khả Á đều là nữ do chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tâm sinh lý phát triển tốt. Nhằm đảm bảo không làm xáo trộn đời sống của cháu nên tiếp tục giao cháu cháu Ái D và cháu Khả Á cho chị T trực tiếp nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trên của chị T

    Sau khi ly hôn anh Phạm Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở theo quy định tại điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

  4. Về cấp dưỡng: Do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  6. Từ những phân tích trên xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí không giá ngạch.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị T, cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Phạm Văn N
  2. Về con chung: Giao cháu là Phạm Thị Ái D, sinh ngày 05/12/2009 và cháu Phạm Thị Khả Á cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Sau khi ly hôn anh Phạm Văn N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị T không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị Nguyễn Thị T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003058 ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án. Anh K không phải chịu án phí.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Đương sự có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận hoặc bản án được miên yết theo quy định pháp luật

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - THADS huyện Phước Long;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã Vĩnh Phú Đông;
  • - Lưu: Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thanh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ - ST ngày 28/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger