Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-5-2025

V/v “tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Đoàn
  2. Ông Nguyễn Minh Chí

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2025/TLST–HNGĐ, ngày 14 tháng 02 năm 2025 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc H trình bày: Bà và ông Trần Văn S tự nguyện kết hôn vào năm 2007 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quyển số 01/2007, đăng ký ngày 21/5/2007 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà không đồng quan điểm sống, tính cách nên thường xảy ra cãi nhau, bên cạnh đó ông S không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho gia đình và hay kiếm chuyện để chửi, đánh bà. Nay bà thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc và không thể tiếp tục nên bà yêu cầu ly hôn với ông S. Về con chung: bà và ông S có 02 con chung là Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/4/2011 và Trần Phạm Như Ý1, sinh ngày 20/4/2020. Bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2

Bị đơn ông Trần Văn S đã được Tòa án cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn ông Trần Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Trần Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2007, đúng với quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông S do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và ông S không có trách nhiệm trong việc chăm lo cho gia đình. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhằm tạo điều kiện cho bà H và ông S tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng ông S vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Còn bà H kiên quyết ly hôn với ông S. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H đối với ông S.

[4] Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Trần Văn S có 02 con chung là Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/4/2011 và Trần Phạm Như Ý1, sinh ngày 20/4/2020. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, ông S không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi các con chung của bà H. Xét thấy, 02 con chung đều đang sống với bà H, được bà H chăm sóc và có cuộc sống ổn định, đồng thời con chung Trần Ngọc Như Ý có nguyện vọng muốn được sống với bà H. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho bà H được quyền trực tiếp nuôi 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà H tự nguyện không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; về nợ chung, bà H trình bày bà và ông S không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn ông S không có văn bản trình bày ý kiến về các vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

[6] Án phí: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Trần Văn S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Ngọc H và ông Trần Văn S.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Phạm Thị Ngọc H trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/4/2011 và Trần Phạm Như Ý1, sinh ngày 20/4/2020. Bà Phạm Thị Ngọc H không yêu cầu ông Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014008 ngày 07/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An, bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - UBND xã L huyện C(Giấy chứng nhận kết hôn
  • số 40, quyển số 01/2007 ngày 21/5/2007);
  • - Lưu: VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Võ Thị Minh Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa bà H với ông S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger