Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 11 - 2025

V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Báu;

Ông Lê Quang Chính.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Nguyễn Minh Thu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2025/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 11/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1991 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn S, xã P, tỉnh Khánh Hòa.

Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn S, xã P, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Bà với ông Bùi Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2013, có đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là UBND xã P, tỉnh Khánh Hòa) làm thủ đăng ký kết hôn vào năm 2015.

Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Đến năm 2016, giữa bà với ông Bùi Văn T xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bà với ông Bùi Văn T sống thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nên hay xảy ra cãi nhau, đánh nhau. Vào năm 2022, bà đã nộp đơn xin ly hôn với ông Bùi Văn T đến Tòa án, nhưng vì con chung còn nhỏ, bà đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng về đoàn tụ. Từ khi rút đơn về thì bà với Bùi Văn T vẫn không hòa hợp được với nhau, mâu thuẫn kéo dài cho đến nay, trở nên trầm trọng. Hiện tại bà với ông Bùi Văn T vẫn sống chung nhà, nhưng ngày nào cũng cãi nhau. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng đã hết, yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Văn T.

Hiện bà đang buôn bán thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 15.000.000₫ – 20.000.000₫.

Về con chung: Bà với ông Bùi Văn T sống với nhau có 02 con chung tên Bùi Nhật K, sinh ngày 18-10-2014 và Bùi Nhật K1, sinh ngày 30-10-2016. Hiện các con chung vẫn sống chung với bà và ông Bùi Văn T, nếu ly hôn bà yêu cầu được nuôi các con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra bà không yêu cầu gì thêm.

* Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Bùi Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông với bà Nguyễn Thị B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2013, có đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là UBND xã P, tỉnh Khánh Hòa) làm thủ đăng ký kết hôn vào năm 2015.

Qúa trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Đến năm 2016, giữa ông với bà Nguyễn Thị B xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông với bà Nguyễn Thị B sống thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nên hay xảy ra cãi nhau, đánh nhau. Vào năm 2022, bà Nguyễn Thị B có nộp đơn xin ly hôn với ông đến Tòa án, được Tòa án hòa giải nên bà Nguyễn Thị B rút đơn về để đoàn tụ cho các con có cha và mẹ. Từ khi rút đơn về giữa ông với bà Nguyễn Thị B vẫn không hòa hợp được với nhau, mâu thuẫn kéo dài cho đến nay trở nên trầm trọng. Hiện ông với bà Nguyễn Thị B vẫn sống chung nhà nhưng ngày nào cũng cãi nhau. Nay bà Nguyễn Thị B yêu cầu ly hôn với ông, thì ông đồng ý, vì ông không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị B.

Hiện ông làm nông thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 10.000.000đ.

Về con chung: Ông với bà Nguyễn Thị B sống với nhau có 02 con chung tên Bùi Nhật K, sinh ngày 18-10-2014 và Bùi Nhật K1, sinh ngày 30-10-2016. Hiện các con chung vẫn sống chung với ông và bà Nguyễn Thị B, nếu ly hôn ông yêu cầu được nuôi con chung Bùi Nhật K1, không yêu cầu cấp dưỡng. Ông đồng ý giao con chung Bùi Nhật K, cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về tài sản và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết

Ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án. Các điều 51, 53, 55, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B. Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Bùi Văn T, giao 02 con chung tên Bùi Nhật K, sinh ngày 18-10-2014 và Bùi Nhật K1, sinh ngày 30-10-2016 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, ông Bùi Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Buộc bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn S, xã P, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Bùi Văn T vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông Bùi Văn T

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa xác định được bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn T, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (Nay là UBND xã P, tỉnh Khánh Hòa) theo giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 30-3-2015. Do đó, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Bùi Văn T, vì tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gay gắt, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nữa. Ông Bùi Văn T cũng xác định không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị B, vì mâu thuẫn vợ chồng gay gắt, trầm trọng, nên ông Bùi Văn T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị B. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn của bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn T phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn T. Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Bùi Văn T.

[3.2]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn T đều trình bày, vợ chồng sống với nhau có 02 con chung tên Bùi Nhật K, sinh ngày 18-10-2014 và Bùi Nhật K1, sinh ngày 30-10-2016, bà Nguyễn Thị B yêu cầu được nuôi hết các con chung. Ông Bùi Văn T yêu cầu được nuôi con chung Bùi Nhật K1, ông đồng ý giao con chung Bùi Nhật K cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông không yêu cầu bà Nguyễn Thị B cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của bà Nguyễn Thị B và ông Bùi Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Hiện các con chung còn nhỏ và đã sống cùng nhau tình cảm anh em gắn bó thân thiết với nhau, nên khó có thể tách rời, hơn nữa các con chung đều có nguyện vọng được sống với mẹ là bà Nguyễn Thị B, vì vậy nên giao các con chung Bùi Nhật K, sinh ngày 18-10-2014 và Bùi Nhật K1, sinh ngày 30-10-2016 cho bà Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3.3]. Về tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận, nên không xem xét đến.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Khánh Hòa tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị B với ông Bùi Văn T. Bà Nguyễn Thị B được ly hôn với ông Bùi Văn T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung Bùi Nhật K, sinh ngày 18-10-2014 và Bùi Nhật K1, sinh ngày 30-10-2016 cho bà Nguyễn Thị B là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001878 ngày 08-10-2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND khu vực 8 – Khánh Hòa;
  • - THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - UBND xã Phước Dinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Bình

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Chính Nguyễn Báu

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger