|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-5-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 04 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Thạch Kim Ú, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khóm E, Phường B, thành phố B, Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Bà P và ông Ú kết hôn với nhau vào năm 2016, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 130/2018 ngày 25/10/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không hiểu nhau, không thông cảm cho nhau. Hiện nay bà P nhận thấy đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà P ly hôn với ông Ú.
Về con chung: Quá trình chung sống bà P và ông Ú có 01 người con chung là Thạch Kim Anh K, sinh ngày 12/10/2017, hiện nay con chung đang sống chung với bà P. Khi ly hôn bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thạch Kim Anh K, không yêu cầu ông Ú cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Thạch Kim Ú được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án làm việc và tham gia xét xử nhưng ông Ú không đến trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Do đó, không có lời trình bày của ông Thạch Kim Ú đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đã thực hiện đầy đủ. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, bà P và ông Ú chung sống có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã mâu thuẫn trong thời gian dài và không thể hàn gắn nên việc bà P yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: Giao cháu T Kim Anh K, sinh ngày 12/10/2017 cho bà P tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung đều không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ngọc P yêu cầu ly hôn với ông Thạch Kim Ú, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Thạch Kim Ú cư trú tại Khóm E, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bà P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Thạch Kim Ú được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định pháp luật.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà P và ông Ú tự nguyện chung sống và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 130/2018 ngày 25/10/2018 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hôn nhân được xây dựng trên mối quan hệ tình cảm vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, cùng nhau chia sẻ, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo bà P xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi. Đối với ông Thạch Kim Ú, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông Ú đến Tòa án tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông Ú không có mặt, điều này chứng tỏ ông Ú không có nguyện vọng muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng bà P và ông Ú đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P.
[2.2] Về con chung:
Bà P xác định quá trình chung sống ông Ú và bà P có 01 người con chung là Thạch Kim Anh K, sinh ngày 12/10/2017, hiện cháu K đang sống cùng với bà P. Tại biên bản lấy lời khai và tài liệu do bà P cung cấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu K bị bệnh chất độc da cam, hiện cháu đang sống cùng mẹ và thu nhập của bà P mỗi tháng 8.500.000 đồng (ngoài cháu K thì bà P không nuôi dưỡng, chăm sóc ai khác) nên xét thấy để không làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt cháu K cũng như để đảm bảo điều kiện chăm sóc, phát triển của cháu Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhậ trình bày của bà P, giao cháu K cho bà P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:
Bà P không yêu cầu ông Ú cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung:
Bà P xác định bà P và ông Ú không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[4] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Ngọc P yêu cầu ly hôn nên bà P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc P.
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ngọc P ly hôn với ông Thạch Kim Ú.
- Về con chung: Giao cháu T Kim Anh K, sinh ngày 12/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Ngọc P tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, (hiện cháu K đang sống cùng với bà P). Ông Thạch Kim Ú có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ngọc P không yêu cầu ông Thạch Kim Ú cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà P đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000275 ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu nên được chuyển thu toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng, cho ly hôn
