Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25-11-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thống

Ông Trần Ngọc Đức

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Kim Thao - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 83/2025/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Dương Thị B.
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến S.

Nơi đăng ký thường trú: Khu A, xã X, tỉnh Phú Thọ.

Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn A, xã Y, tỉnh Lào Cai.

(Các đương sự cùng vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và Bản tự khai ngày 20-10-2025, nguyên đơn là chị Dương Thị B trình bày: Chị và anh Nguyễn Tiến S kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã X, tỉnh Phú Thọ) vào tháng 10-1998 nhưng sau đó do mất giấy đăng ký kết hôn nên đăng ký kết hôn lại vào ngày 30-12-2024. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai người chung sống hòa thuận, đến năm 2000 thì gia đình chuyển lên sinh sống tại thôn A, xã Y, tỉnh Lào Cai. Từ thời điểm này thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Tiến S thường xuyên uống rượu dẫn đến bạo lực gia đình. Mâu thuẫn đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả nên hai người đã sống ly thân. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Nguyễn Tiến S.

Về con chung, hai người có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 18-02-1999 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 15-02-2002. Các cháu đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 05-11-2025, bị đơn là anh Nguyễn Tiến S trình bày: Anh và chị Dương Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã X, tỉnh Phú Thọ). Trong quá trình chung sống, hai người có xảy ra mâu thuẫn, hiện nay hai người đã sống ly thân. Tuy nhiên anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn với chị Dương Thị B.

Về con chung, hai người có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 18-02-1999 và cháu Nguyễn Tiến M, sinh ngày 15-02-2002. Các cháu đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 05-11-2025, Toà án nhân dân khu vực 2-Lào Cai mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Bị đơn thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do bản thân hay uống rượu nhưng không nhất trí ly hôn. Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung. Sau khi hòa giải, anh Nguyễn Tiến S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ngày 25-11-2025 nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của tố tụng dân sự. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng. Các đương sự đều có đơn xin xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung: Căn cứ trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và lời khai do các đương sự trình bày. Thể hiện vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân. Vì vậy căn cứ để xác định mâu thuẫn của các đương sự đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để xử cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn.

Về con chung, tài sản và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuyên buộc chị Dương Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã Y, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

[1.2] Các đương sự đều có đề nghị xét xử vắng mặt nên Toà án căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn do xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã X, tỉnh Phú Thọ) cung cấp, thể hiện hai người có đăng ký kết hôn nên việc kết hôn giữa chị Dương Thị B và anh Nguyễn Tiến S là hợp pháp. Các đương sự đều thừa nhận trong cuộc sống chung, đã xảy ra mâu thuẫn do anh Nguyễn Tiến S thường xuyên uống rượu; hiện tại hai người đã sống ly thân.

Do các đương sự cùng thừa nhận đã có mâu thuẫn và đang sống ly thân, nên theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết không phải chứng minh. Vì vậy, có cơ sở để xác định mục đích của hôn nhân giữa hai người không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Cần căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình để xử cho chị Dương Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Tiến S.

[2.2] Về con chung: Do con chung của hai người đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Toà án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Dương Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lào Cai về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Dương Thị B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Tiến S.

2. Về án phí: Chị Dương Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001430 ngày 21 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị Dương Thị B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND khu vực 2 - Lào Cai;
  • - Các đương sự, Niêm yết,
  • - THA Dân sự khu vực 2 - Lào Cai;
  • - UBND xã X - Phú Thọ;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger