TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 25/6/2025
V/v “Xin ly hôn
và nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Thanh Điền
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Rạng Đông - Chức vụ: Hội trưởng Hội khuyến học thành phố Phú Quốc.
- Ông Nguyễn Phước Lộc - Chức vụ: Phó chủ tịch Hội người cao tuổi.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Trà My- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 19/2025/TLST– HNGĐ, ngày 16/01/2025, về việc “Xin ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày, 09/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tranh Hoàng D, sinh năm 1989
- Bị đơn: Bà Thị Đ, sinh năm 1993
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
(Bà Đ và ông D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Tranh Hoàng D trình bày:
Ông và bà Thị Đào T tìm hiểu yêu thương nhau chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 119/2012, quyển số 1/2012, ngày 30/9/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc, đến cuối năm 2016, tình cảm bắt đầu rạn nứt do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, lâu dần không còn tình cảm với nhau và đã sống ly thân với nhau hơn 3 tháng nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Thị Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung tên là Tranh Hoàng Sỹ L, sinh ngày 06/6/2013 và Tranh Hoàng Sỹ L1, sinh ngày 17/7/2017. Ông D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục 02 con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Tranh Hoàng D không yêu cầu bà Thị Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông.
Về tài sản chung: ông D xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: ông Tranh Hoàng D cam kết trong suốt quá trình chung sống bà và chồng không có nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp thì ông sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật.
* Tại bản tự khai ngày 19/02/2025, bà Đ trình bày ý kiến như sau:
Bà Thị Đ thống nhất toàn bộ nội dung trình bày của ông Tranh Hoàng D, cụ thể:
- Về hôn nhân: Bà Thị Đ thống nhất ly hôn với ông Tranh Hoàng D;
- Về con chung: Hiện tại 02 người con chung là Tranh Hoàng Sỹ L, sinh ngày 06/6/2013 và Tranh Hoàng Sỹ L1, sinh ngày 17/7/2017, bà Thị Đ đồng ý giao cả 02 con cho ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Thống nhất với yêu cầu của ông D, bà Thị Đ không cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông D.
- Về tài sản và công nợ chung: Bà Đ cũng xác nhận không có tài sản và công nợ chung với ông Tranh Hoàng D, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Nếu có phát sinh tranh chấp bà sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Sau khi thảo luận nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn ông Tranh Hoàng D; Bị đơn bà Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
- - Về hôn nhân: Bà Thị Đ thống nhất ly hôn với ông Tranh Hoàng D.
- - Về con chung: Bà Đ và ông Tranh Hoàng D xác nhận trong suốt quá trình chung sống ông, bà có 02 người con chung tên Tranh Hoàng Sỹ L, sinh ngày 06/6/2013 và Tranh Hoàng Sỹ L1, sinh ngày 17/7/2017. Bà Thị Đ tự nguyện giao hai con cho chồng là ông Tranh Hoàng D chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), phù hợp với nguyện vọng của ông D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung; Phù hợp với nguyện vọng của hai cháu Sỹ L và Sỹ L1 là được sống chung với cha.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Tranh Hoàng D không yêu cầu bà Thị Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông được bà Đ đồng ý.
- - Về tài sản và công nợ chung: Bà Thị Đ và ông Tranh Hoàng D cùng xác nhận không có tài sản và công nợ chung nên không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết. Ông, bà cùng cam kết nếu có phát sinh tranh chấp thì ông D và bà Đ cùng chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hội đồng xét xử miễn xét.
[3] Về án phí: ông Tranh Hoàng D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 228, 271 và Điều khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng: Điều 51, 55 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Tranh Hoàng D với bà Thị Đ.
2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Tranh Hoàng Sỹ L, sinh ngày 06/6/2013 và Tranh Hoàng Sỹ L1, sinh ngày 17/7/2017 cho ông Tranh Hoàng D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Ông D không yêu cầu bà Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ông được bà Đ đồng ý.
Vì lợi ích chung về mọi mặt của con nên ông D và bà Đ khi cần thiết được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Bà Đ có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
3/ Về tài sản và công nợ chung: Bà Thị Đ và ông Tranh Hoàng D cùng xác nhận không có tài sản và công nợ chung nên không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết. Ông, bà cùng cam kết nếu có phát sinh tranh chấp thì ông D và bà Đ cùng chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hội đồng xét xử miễn xét.
4. Về án phí: Ông Tranh Hoàng D phải chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông D đã nộp theo biên lai thu số 0006974 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Ông D đã nộp xong nay chuyển thành án phí.
Bà Thị Đ không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại nơi cư trú cuối cùng để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lâm Thanh Điền |
Bản án số 47/2025/HNGĐ – ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hon
