TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá M, sinh năm: 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: xóm B, thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan; (Vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Võ Thị Minh A, sinh năm: 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm B, thôn Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Bá M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Bá M và chị Võ Thị Minh A kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2018 anh M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không thể hàn gắn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Nguyễn Bá M làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với chị Võ Thị Minh A.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Bá Nam P, sinh ngày 09/10/2014 và cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 03/10/2017. Hiện nay cháu P đang sống cùng bà nội, cháu Đ sống cùng bà ngoại. Khi ly hôn, anh Nguyễn Bá M đề nghị Tòa án giao cháu P cho anh M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Đ cho chị Minh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Võ Thị Minh A trình bày: Chị Anh thống nhất như ý kiến của anh M về quan hệ hôn nhân. Theo chị A, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung. Xét thấy vợ chồng không thể hàn gắn, nay anh M có đơn xin ly hôn thì chị A cũng đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Bá Nam P, sinh ngày 09/10/2014 và cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 03/10/2017. Khi ly hôn chị A có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng, chị A đề nghị anh M cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/con/tháng từ thời điểm ly hôn cho đến khi các con đủ tuổi thành niên.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 110, 116, 117, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28; 37; 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 3 Nghị Quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:
- Về tình cảm: cho anh Nguyễn Bá M được ly hôn chị Võ Thị Minh A.
- Về con chung: giao 02 con chung là cháu Nguyễn Bá Nam P, sinh ngày 09/10/2014 và cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Võ Thị Minh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Bá M cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 con (4.000.000 đồng/tháng/02 con); thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Bá M và chị Võ Thị Minh A đăng ký kết hôn ngày 28/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã L), huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nay anh Nguyễn Bá M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Võ Thị Minh A. Anh Nguyễn Bá M và chị Võ Thị Minh A đều có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Anh Nguyễn Bá M hiện đang lao động tại Đài Loan. Tại công văn số 1291/QLXNC–Đ1 ngày 12/12/2024 của Phòng Q - Công an tỉnh H cung cấp thông tin xuất nhập cảnh như sau: Anh Nguyễn Bá M, sinh ngày 29/8/1992 sử dụng hộ chiếu số C3595117 xuất cảnh gần nhất ngày 01/8/2018 qua sân bay Quốc tế N hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Cả nguyên đơn và bị đơn đều có ý kiến xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Bá M và chị Võ Thị Minh A tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã L), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của anh M và chị A là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Đến năm 2018, anh M đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Nhận thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Bá M khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Võ Thị Minh A. Chị Võ Thị Minh A thống nhất về nội dung trình bày của anh Nguyễn Bá M về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc anh M xin ly hôn thì chị A cũng đồng ý.
Xét thấy mâu thuẫn giữa anh M và chị A là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được; anh M và chị A đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho anh Nguyễn Bá M và chị Võ Thị Minh A ly hôn.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung cháu Nguyễn Bá Nam P, sinh ngày 09/10/2014 và cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 03/10/2017. Hiện nay cháu P đang sống cùng bà nội, cháu Đ sống cùng bà ngoại. Khi ly hôn, anh Nguyễn Bá M đề nghị Tòa án giao cháu P cho anh M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Đ cho chị Minh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thị Minh A có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung; yêu cầu anh Nguyễn Bá M cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 con (4.000.000 đồng/tháng/02 con).
Xét thấy, mặc dù cháu P hiện đang sống cùng bà nội, cháu Đ hiện đang sống cùng bà ngoại; các cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần; tuy nhiên, trách nhiệm và quyền nuôi dưỡng con chung thuộc về cha mẹ. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên theo quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hiện tại chị A đang sinh sống và làm việc ở Việt Nam, đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung để đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho các con, còn anh M vẫn đang lao động tại Đài Loan, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh đó, tại buổi làm việc với Tòa án, cả cháu P và cháu Đ đều trình bày nội dung: nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu muốn được ở với mẹ Võ Thị Minh A. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai con chung là cháu Nguyễn Bá Nam P, sinh ngày 09/10/2014 và cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Võ Thị Minh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 con (4.000.000 đồng/tháng/02 con) mà chị A yêu cầu anh M cấp dưỡng là phù hợp với mức sinh hoạt chung, phù hợp với các chi phí cần thiết để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên có căn cứ để chấp nhận.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn anh Nguyễn Bá M về việc tự nguyện chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm; nguyên đơn anh Nguyễn Bá M phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 71, 81, 82, 83, 110, 116, 117, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 7, Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
4
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Bá M và chị Võ Thị Minh A ly hôn.
- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Bá Nam P, sinh ngày 09/10/2014 và cháu Nguyễn Linh Đ, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Võ Thị Minh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Buộc anh Nguyễn Bá M cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 con (4.000.000 đồng/tháng/02 con), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 03/2025 đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Anh Nguyễn Bá M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bồi thường cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- 3. Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn anh Nguyễn Bá M về việc tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000198 ngày 29/11/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
Buộc nguyên đơn anh Nguyễn Bá M phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- 4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- 5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Tất Thể | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |
Bùi Văn Hồng |
5
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |
7
Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
