TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST Ngày 07-3-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ;
- Ông Trần Đình Thừa.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1990; thường trú: số G khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Cảnh L1, sinh năm 1984; thường trú: số G khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng11 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 tự nguyện yêu nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53/2014 ngày 07/7/2014 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Dương Thị L sống tại nhà riêng theo địa chỉ thường trú tại số nhà G khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Những năm đầu, anh chị sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng chị L phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do: vợ chồng chị L không có tiếng nói chung, anh Nguyễn Cảnh L1 chơi tiền ảo gây nợ nần, dù chị Dương Thị L có trao đổi nhưng anh Nguyễn Cảnh L1 không thay đổi. Anh L1 và chị L sống ly thân từ năm 2024, chị Dương Thị L đã cùng các con về sinh sống tại tỉnh Nghệ An cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân giữa chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 không đạt được nên chị Dương Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Cảnh L1.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 có 02 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Phúc K, sinh ngày 21/02/2019. Sau ly hôn, chị L có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Gia H và Nguyễn Phúc K. Chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung do chị L chăm sóc.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay chị Dương Thị L là nhân viên văn phòng thu nhập khoảng 40.000.000 đồng/1 tháng, anh Nguyễn Cảnh L1 là nhân viên bảo trì, thu nhập khoảng 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng/1 tháng
Theo bản tự khai ngày 20/02/2025, lời khai trong quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Cảnh L1 trình bày:
Chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 kết hôn vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Gia đình anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc và có 02 con chung. Đến năm 2023, anh L1 bắt đầu chơi chứng khoán và tiền số, bước đầu thuận lợi, nhưng sau đó, anh L1 thua lỗ, ảnh hưởng lớn đến kinh tế gia đình. Từ đó, anh chị phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm là chị Dương Thị L và các con bỏ đi nơi khác sống. Kể từ đó, anh L1 bỏ chơi, cố gắng kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình. Hiện tại, anh Nguyễn Cảnh L1 không muốn ly hôn vì thương yêu vợ và các con. Anh Nguyễn Cảnh L1 mong muốn gia đình đoàn tụ, hạnh phúc như xưa.
Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 do Tòa án tiến hành, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:
Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị Dương Thị L không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Hội Liên hiệp phụ nữ phường T cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Vì vậy, Hội Liên hiệp phụ nữ phường Tân Bình không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Về việc vắng mặt của các đương sự: bị đơn anh Nguyễn Cảnh L1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung;
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 tự nguyện yêu nhau, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2014 cấp ngày 07/7/2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị L: Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, nhưng từ cuối năm 2023, cuộc sống gia đình luôn phát sinh ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do chị L và anh Nguyễn Cảnh L1 không có tiếng nói chung; anh L1 chơi tiền ảo gây nợ nần và hai bên sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Anh Nguyễn Cảnh L1 thừa nhận trước đây có chơi chứng khoán và tiền số nhưng sau đó bị thua lỗ, ảnh hưởng lớn đến kinh tế gia đình. Từ đó hai bên phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm là chị L và các con chuyển ra nơi khác sống, tuy nhiên anh L1 đã bỏ chơi chứng khoán và tiền số và chăm chỉ làm việc. Anh L1 mong muốn gia đình đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Cảnh L1 và chị Dương Thị L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn trong thời gian dài do vợ chồng không có tiếng nói chung về vấn đề kinh tế, vợ chồng sống ly thân . Anh Nguyễn Cảnh L1 không đồng ý ly hôn nhưng trong cuộc sống hôn nhân của anh L1 và chị L phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình, mục đích hôn nhân giữa chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 không đạt được. Vì vậy, chị Dương Thị L yêu cầu được ly hôn là phù hợp với quy định của Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị L.
[2.3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 có 02 con chung là Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Phúc K, sinh ngày 21/02/2019. Trong quá trình tố tụng, chị Dương Thị L có nguyện được trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Gia H và Nguyễn Phúc K. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy: Các cháu Nguyễn Gia H và Nguyễn Phúc K còn nhỏ cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ và trong đơn trình bày nguyện vọng của cháu H thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ, đồng thời hiện nay các con chung đang do chị Dương Thị L trực tiếp chăm sóc để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu Nguyễn Gia H và Nguyễn Phúc K cần giao cháu Nguyễn Gia H và Nguyễn Phúc K cho chị Dương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[2.4] Về cấp dưỡng: Chị Dương Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Cảnh L1 cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thị L.
[2.5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
[3] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thị L phải chịu án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ Điều 4, 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị L về việc ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Cảnh L1.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Cảnh L1 theo Giấy đăng ký kết hôn số 53/2014 tại UBND phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 07/7/2014.
- - Về con chung: Giao 02 cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 07/4/2015 và Nguyễn Phúc K, sinh ngày 21/02/2019 do chị Dương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- Sau khi ly hôn, chị Dương Thị L và anh Nguyễn Cảnh L1 có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thị L về việc không yêu cầu anh Nguyễn Cảnh L1 cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007650 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |
Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Dương Thị L yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Cảnh L
