Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 12 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc Bích.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Khảnh, ông Vũ Xuân Trúc.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.

Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Nguyễn Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 144/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Mã Thị N, sinh ngày 08/02/1989.

Giấy Căn cước công dân số: [...]; Cấp ngày: 14/03/2022.

Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã M, tỉnh Ninh Bình.

Nơi ở hiện nay: Xóm N, xã L, tỉnh Cao Bằng.

Bị đơn: Anh Phạm Thanh T, sinh ngày 11/03/1979.

Giấy Căn cước công dân số: [...]; Cấp ngày: 16/08/2021.

Địa chỉ cư trú: Thôn T, xã M, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: Vắng mặt chị N, anh T (chị N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; anh T vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Mã Thị N trình bày: Chị và anh Phạm Thanh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Nam Định (nay là xã M, tỉnh Ninh Bình) ngày 18/6/2019. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, hay bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, không có hạnh phúc và chính thức sống ly thân từ tháng 6/2025 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Phạm Đức H, sinh ngày 07/06/2019 và Phạm Gia K, sinh ngày 10/08/2020 hiện đang sống cùng chị và ông bà ngoại tại tỉnh Cao Bằng. Chị N xin được nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, giấy triệu tập anh T đến làm việc nhưng anh T vắng mặt không lý do.

3. Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện: Anh Phạm Thanh T và chị Mã Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Nam Định nay là xã M, tỉnh Ninh Bình ngày 18/6/2019. Quá trình chung sống, anh chị có xảy ra mâu thuẫn gì với nhau hay không, mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ vì anh, chị chưa lần nào đề nghị địa phương can thiệp giải quyết mâu thuẫn. Hiện nay, chị N và các con không chung sống cùng anh T tại địa phương, anh T và chị N đang sống ly thân. Về con chung: Anh T và chị N có 02 con chung là Phạm Đức H, sinh ngày 07/06/2019 và Phạm Gia K, sinh ngày 10/08/2020 hiện đang ở cùng chị N. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị N cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị N, địa phương đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T, anh T biết việc chị N xin ly hôn tại Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình nhưng do bận đi làm nên không có mặt tham gia tố tụng tại Toà án. Địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

4. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại buổi làm việc, chị N có mặt, anh T vắng mặt. Chị N có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho anh chị theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Chị N xin giải quyết vắng mặt. Anh T mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố đơn của chị N đề nghị xét xử vắng mặt. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung:

Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mã Thị Núi .

Về con chung: Đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cả 02 con chung cháu Phạm Đức H, sinh ngày 07/06/2019 và Phạm Gia K, sinh ngày 10/08/2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Thanh T có nơi cư trú tại thôn T, xã M, tỉnh Ninh Bình nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.

Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án chị N có đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh T mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mã Thị N và anh Phạm Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 18/6/2019 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Nam Định - nay là xã M, tỉnh Ninh Bình. Đây là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn, anh chị sống hoà thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không tìm được tiếng nói chung dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chủ động sống ly thân và kiên quyết xin ly hôn với anh T. Về phía anh T, mặc dù anh biết việc chị N xin ly hôn, đã được Toà án triệu tập để tham gia tố tụng, thông báo để hoà giải cho anh chị nhưng anh T vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị N nữa. Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh chị nhưng anh T vẫn vắng mặt. Chị N đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án, kiên quyết xin ly hôn anh T nên Tòa án không thể gắn kết hạnh phúc cho anh chị được. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn của chị N, xử cho anh chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là cháu Phạm Đức H, sinh ngày 07/06/2019 và Phạm Gia K, sinh ngày 10/08/2020. Việc chăm sóc, nuôi dạy con chung chưa thành niên là trách nhiệm, nghĩa vụ, là quyền lợi của cha mẹ. Xét thấy, cả 02 con chung đều đang ở cùng chị N. Chị N có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Chị N có công việc, thu nhập ổn định khoảng 11 triệu đồng/tháng, có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T đến Tòa án, UBND xã M để làm việc nhưng anh T đều vắng mặt nên không ghi nhận được quan điểm, nguyện vọng của anh T về vấn đề con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao cháu H, cháu K cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng để các cháu được phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị N, anh T không yêu cầu giải quyết.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Mã Thị N và anh Phạm Thanh T.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Phạm Đức H, sinh ngày 07/06/2019 và Phạm Gia K, sinh ngày 10/08/2020 cho chị Mã Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó; Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

3. Về án phí sơ thẩm ly hôn: Chị Mã Thị N phải nộp là 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001556, ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, chị N đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Mã Thị N và anh Phạm Thanh T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 8 - Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã M, tỉnh Ninh Bình;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Mã Thị N xin ly hôn anh Phạm Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger