Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SM

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Lường Thị Khuyển
  • 2. Ông Quàng Văn Tiện

Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2025/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐST - HNGĐ ngày 28/4/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QÐST - HNGĐ ngày 20/5/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vàng Thị S, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản Bua Hin (trước đây là bản Huổi Hin), xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La.

- Bị đơn: Anh Sộng Bả D, sinh năm 1983, địa chỉ: Bản Bua Hin (trước đây là bản Huổi Hin), xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn chị Vàng Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị S và anh Sộng Bả D qua thời gian tìm hiểu, quen biết yêu thương nhau đã đăng ký kết hôn ngày 15/7/2013 tại UBND xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị ép buộc. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Anh chị đã nhiều lần được gia đình 2 bên khuyên răn, hòa giải nhưng trong cuộc sống vợ chồng vẫn thường xuyên sảy ra cãi vã và không thể hòa hợp với nhau; đã sống ly thân một thời gian, không còn yêu thương quan tâm đến nhau nữa.

Do vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị Vàng Thị S viết đơn yêu cầu được ly hôn anh Sộng Bả D.

Về con chung: Anh chị 02 con chung là cháu Sộng Chí Long, sinh ngày 02/7/2009 và cháu Sộng Nụ Kênh, sinh ngày 15/12/2011

Trong thời gian anh chị sống ly thân, các cháu ở với anh Sông Bả Daư tại bản Bản Bua Hin (trước đây là bản Huổi Hin), xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La. Chị có nguồn thu nhập chủ yếu từ trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê. Thu nhập trung bình là 5.000.000 đồng/tháng. Nếu ly hôn chị nhận trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu, không yêu cầu anh Sộng Bả D phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Anh chị cam đoan không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Sộng Bả D không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không viết bản tự khai theo yêu cầu của Tòa án.

Kết quả xác minh tại địa phương nơi các đương sự sinh sống cho thấy:

Về hôn nhân: Anh chị kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2013 tại UBND xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La. Cuộc sống hôn nhân của chị Vàng Thị S và anh Sộng Bả D có mâu thuẫn do anh chị không hợp tính nhau; anh chị đã được địa phương tiến hành hòa giải nhưng không thành; đã ly thân một thời gian dài.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Sộng Chí Long, sinh ngày 02/7/2009 và cháu Sộng Nụ Kênh, sinh ngày 15/12/2011. Trong thời gian anh chị sống ly thân các cháu ở với anh Sộng Bản Daư.

Kết quả ghi ý kiến con chung: Các cháu cùng ý kiến nếu bố mẹ ly hôn các cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện SM phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án huyện SM tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Vàng Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Sộng Bả D đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Xử cho chị Vàng Thị S được ly hôn anh Sộng Bả D. Giao các cháu Sộng Chí Long, sinh ngày 02/7/2009 và cháu Sộng Nụ Kênh, sinh ngày 15/12/2011 cho chị Vàng Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc chị Vàng Thị S không yêu cầu anh Sộng Bả D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung không yêu cầu tòa án giải quyết; về nợ chung không xem xét. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho chị Vàng Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Vàng Thị S yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Sộng Bả D có địa chỉ tại Bản Bua Hin (trước đây là bản Huổi Hin), xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về thủ tục hoà giải: Nguyên đơn có đơn đề nghị không hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Vàng Thị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Sộng Bả D đã được triệu tập, tống đạt hợp lệ nhưng vẫn liên tục vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Anh Sộng Bả D không đến Tòa án theo triệu tập, không đưa ra chứng cứ để chứng minh, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã được thu thập theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Sộng Bả D phải chịu hậu quả pháp lý về việc không chứng minh theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Tại phiên tòa hôm nay và qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định chị Vàng Thị S và anh Sộng Bả D đăng ký kết hôn từ 15/7/2013 tại UBND xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc nên hôn nhân giữa chị Vàng Thị S và anh Sộng Bả D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tình trạng hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chứng tỏ lời khai của nguyên đơn là đúng sự thật. Việc vợ chồng anh không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; anh Sộng Bả D không quan tâm gì đến vợ con; không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau; mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình và địa phương hòa giải nhưng không thành là đúng sự thật. Mặt khác, chị Vàng Thị S cương quyết yêu cầu ly hôn càng chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị Vàng Thị S và anh Sộng Bả D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu, cho chị Vàng Thị S được ly hôn anh Sộng Bản Daư.

[3] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Sộng Chí Long, sinh ngày 02/7/2009 và cháu Sộng Nụ Kênh, sinh ngày 15/12/2011

Xét thấy các cháu đều trên 07 tuổi và cùng có nguyện vọng ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, anh Sộng Bả D không có mặt theo giấy triệu tập, Tòa án án không thu thập được ý kiến của anh Sộng Bả D về việc nuôi con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên và phù hợp với thực tế cần giao các cháu cho chị Vàng Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Áp dụng Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Chị Vàng Thị S có thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung, chị tự nguyện không yêu cầu anh Sộng Bả D phải cấp dưỡng nuôi con chung nên cần ghi nhận.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung: Chị Vàng Thị S xác nhận không có. Anh Sộng Bả D vắng mặt không có lời khai. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Vàng Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn yêu cầu miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên cần chấp nhận theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; 110; 116; 117; 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 207; Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vàng Thị S được ly hôn anh Sộng Bả D.
  2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là các cháu Sộng Chí Long, sinh ngày 02/7/2009 và cháu Sộng Nụ Kênh, sinh ngày 15/12/2011

    Giao các cháu Sộng Chí Long, sinh ngày 02/7/2009 và cháu Sộng Nụ Kênh, sinh ngày 15/12/2011 cho chị Vàng Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con:

    Ghi nhận việc chị Vàng Thị S không yêu cầu anh Sộng Bả D phải đóng tiến cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về nợ chung: Không có.
  6. Về án phí: Chị Vàng Thị S được miễn án phí Dân sự sơ thẩm, được trả số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai số 0002468 ngày 25/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện SM, tỉnh Sơn La.
  7. Về quyền kháng cáo: Chị Vàng Thị S, anh Sộng Bả D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện SM;
  • - Chi cục THADS huyện SM;
  • - UBND xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La;
  • - Người tham gia tố tụng ;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM, TỈNH SƠN LA về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SM, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger