Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST.

Ngày: 09-6-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Bông và ông Nguyễn Xuân Hinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Số G, Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị H: Luật sư Đinh Văn S – Công ty trách nhiệm hữu hạn P – Chi nhánh L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số E, đường P, Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng Y, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Nguyễn Trọng L, sinh năm 1945. Nơi thường trú: Thôn I, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

2. Cụ Nguyễn Thị T, sinh năm 1945. Nơi thường trú: Thôn I, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04-12-2023 và đơn khởi kiện bổ sung, trong quá trình tổ tụng nguyên đơn bà Trần Thị H và Luật sư Đinh Văn S đều trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Trọng Y kết hôn ngày 31-12-1993, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 01-2023 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, bà yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Trọng Y, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Trọng A, sinh ngày 01-01-1994 và bà Nguyễn Thị H1, sinh ngày 23-02-2000. Hiện nay hai con chung đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình. Khi ly hôn không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản:

Quá trình hôn nhân bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y tạo lập được các tài sản chung gồm: Căn nhà xây cấp 4, diện tích khoảng 100m², cùng diện tích đất 7.956m², thửa 42, bản đồ 17, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đ 277556 ngày 18-8-2004 do UBND huyện D cấp tên hộ Nguyễn Trọng Y; Diện tích đất 1.934m², thửa 41, bản đồ 17, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đ 277556 ngày 18-8-2004 do UBND huyện D cấp tên hộ Nguyễn Trọng Y và diện tích đất 2.300m², tờ bản đồ số 17, tại xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, hiện nay ông Nguyễn Trọng Y đang quản lý, sử dụng. Hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, trường hợp có tranh chấp giải quyết bằng vụ án khác.

Ngày 09-6-2025 bà Trần Thị H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu chia tài sản khi ly hôn, không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

Về nợ chung: Vợ chồng nợ Ngân hàng N (A1) – Chi nhánh L1 số tiền vay gốc 1.350.000.000 đồng và tiền lãi. Đến ngày 24-10-2024 ông Nguyễn Trọng Y đã trả xong toàn bộ số nợ vay (Chứng từ giao dịch ngày 24-10-2024). Ngoài ra, không còn nợ Ngân hàng, không còn nợ cá nhân khoản nào khác.

Chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chổ, đo đạc, thẩm định giá, khai thác và sử dụng tài liệu đất đai) tổng cộng 41.972.120 đồng (Bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn một trăm hai mươi đồng), bà H tự nguyện chịu, bà H đã nộp và quyết toán xong.

Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Quá trình tố tụng ông Nguyễn Trọng Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị H kết hôn ngày 31-12-1993, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, kết hôn tự nguyện. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 01-2023 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, bà H yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Trọng A, sinh ngày 01-01-1994 và bà Nguyễn Thị H1, sinh ngày 23-02-2000. Hiện nay hai con chung đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình. Khi ly hôn không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản: Tài sản chung ông và bà Trần Thị H đã tự thoả thuận giải quyết, vợ chồng xác định không có nợ chung. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 13-5-2025 của cụ Nguyễn Trọng L và cụ Nguyễn Thị T đều trình bày: Yêu cầu xác định diện tích đất khoảng 2.300m², thuộc tờ bản đồ số 17, toạ lạc tại Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là tài sản của hai cụ, không phải là tài sản chung của bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y. Đến ngày 09-6-2025 cụ Nguyễn Trọng L và cụ Nguyễn Thị T có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập, nên Toà án không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H, đề nghị xử bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y ly hôn, về con chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết, về tài sản đình chỉ giải quyết yêu cầu. Buộc các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trọng Y. Ông Nguyễn Trọng Y hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Tất cả những người tham gia tố tụng đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, Toà án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y tự nguyện kết hôn ngày 31-12-1993, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Trần Thị H yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Trọng Y là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y có hai con chung là Trần Bảo D, sinh ngày 03-02-1999 và Trần Bảo T1, sinh ngày 09-11-2004. Hai con đều đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình. Khi ly hôn không yêu cầu nên không giải quyết.

Về tài sản: Theo đơn khởi kiện ngày 04-12-2023 và đơn khởi kiện bổ sung bà H yêu cầu chia tài sản khi ly hôn. Ngày 09-6-2025 bà Trần Thị H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn và được Tòa án chấp nhận theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn ông Nguyễn Trọng Y không có yêu cầu phản tố; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Nguyễn Trọng L và cụ Nguyễn Thị T rút toàn bộ yêu cầu độc lập. Bà H và ông Y đều trình bày đã thoả thuận giải quyết về tài sản khi ly hôn, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn.

Về nợ chung: Vợ chồng nợ Ngân hàng N (A1) – Chi nhánh L1 số tiền vay gốc 1.350.000.000 đồng và tiền lãi, ngày 24-10-2024 ông Nguyễn Trọng Y đã trả xong toàn bộ số nợ vay (Chứng từ giao dịch ngày 24-10-2024). Ngoài ra, không còn nợ Ngân hàng, không còn nợ ai khoản nào khác nên không đề cập giải quyết.

Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 13-5-2025 của cụ Nguyễn Trọng L và cụ Nguyễn Thị T đều trình bày: Yêu cầu xác định diện tích đất khoảng 2.300m², thuộc tờ bản đồ số 17, toạ lạc tại Thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là tài sản của hai cụ, không phải là tài sản chung của bà Trần Thị H, ông Nguyễn Trọng Y. Đến ngày 09-6-2025 cụ Nguyễn Trọng L và cụ Nguyễn Thị T có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập, nên Toà án không xem xét giải quyết.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chổ, đo đạc, thẩm định giá, khai thác và sử dụng tài liệu đất đai) tổng cộng 41.972.120 đồng (Bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn một trăm hai mươi đồng), bà H tự nguyện chịu, bà H đã nộp và quyết toán xong.

[5] Về án phí: Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào Điều 56 và Điều 57 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y ly hôn.

2. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn của bà Trần Thị H đối với căn nhà xây cấp 4, diện tích khoảng 100m², cùng diện tích đất 7.956m², thửa 42, bản đồ 17, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đ 277556 ngày 18-8-2004 do UBND huyện D cấp tên hộ Nguyễn Trọng Y; Diện tích đất 1.934m², thửa 41, bản đồ 17, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đ 277556 ngày 18-8-2004 do UBND huyện D cấp tên hộ Nguyễn Trọng Y.

Bà Trần Thị H có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đối với tài sản chung theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trả lại tài liệu chứng cứ kèm theo (bản chính) cho bà Trần Thị H nếu có yêu cầu.

3. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị H chịu chi phí tố tụng (xem xét, thẩm định tại chổ, đo đạc, thẩm định giá, khai thác và sử dụng tài liệu đất đai) tổng cộng 41.972.120 đồng (Bốn mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn một trăm hai mươi đồng), bà H đã nộp và quyết toán xong.

4. Về án phí: Bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, hoàn trả bà Trần Thị Hằng S1 tiền án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản khi ly hôn là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005628 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.

5. Quyền kháng cáo: Bà Trần Thị H, Luật sư Đinh Văn S, ông Nguyễn Trọng Y, cụ Nguyễn Trọng L, cụ Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND Di Linh;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - UBND xã Hoà Ninh, Di Linh, LĐ;
  • - Chi cục thi hành án huyện Di Linh;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thị Mỹ Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST. ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Trần Thị H và ông Nguyễn Trọng Y
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger