Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2025/HNGĐ-ST
Ngày 06 tháng 6 năm 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Hoàng;
  2. Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 481/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 59/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số: 08/TB-TA ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Cao Thị Ngọc H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
  • Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị Ngọc H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà và ông C là do tự tìm hiểu, được gia đình đồng ý nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã T vào năm 2013. Sau khi kết hôn thì chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi do bất đồng quan điểm sống, ông C có quan hệ tình cảm người phụ nữ khác, không quan tâm vợ con. Mâu thuẫn cứ tiếp tục kéo dài, tình cảm vợ chồng rạng nứt, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng và không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm được. Nay tình cảm không vợ chồng không còn, bà yêu cầu xin được ly hôn ông Trần Văn C.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Cẩm N, sinh ngày 21/6/2013 và Trần Phát L, sinh ngày 29/12/2018.

Sau khi ly hôn bà H đồng ý để ông C được tiếp tục nuôi con chung, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho ông Trần Văn C nhưng ông C vắng mặt, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng bà H không đồng ý đoàn tụ chung sống, giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn ông Trần Văn C; giao con chung cho ông C tiếp tục nuôi con chung, bà H không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Trần Văn C được triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Cao Thị Ngọc H đối với ông Trần Văn C; giao con chung cho ông C tiếp tục nuôi dạy, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

Buộc bà Cao Thị Ngọc H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Cao Thị Ngọc H khởi kiện xin được ly hôn với ông Trần Văn C có nơi cư trú tại ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Trần Văn C được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Cao Thị Ngọc H và ông Trần Văn C do tự tìm hiểu tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã T, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên không hạnh phúc, ông C có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm vợ con nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Gia đình đã hàn gắn tình cảm nhưng bà H không chấp nhận chung sống lại với nhau. Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương, người thân trong gia đình xác định nguyên nhân mâu thuẫn đúng như lời bà Cao Thị Ngọc H trình bày.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà H, ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Cẩm N, sinh ngày 21/6/2013 và Trần Phát L, sinh ngày 29/12/2018.

Sau khi ly hôn bà H đồng ý để ông C được tiếp tục nuôi con chung, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy từ khi bà H, ông C không còn chung sống với nhau thì con chung do ông C trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con; cháu N có nguyện vọng sống chung với ông C sau khi cha mẹ ly hôn. Nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, sinh hoạt bình thường và tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận để ông C được nuôi con chung sau khi ly hôn.

Ông C không có ý kiến yêu cầu buộc bà H cấp dưỡng nuôi con, bà H không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Ngọc H.

- Về hôn nhân: Bà Cao Thị Ngọc H được ly hôn ông Trần Văn C.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Cẩm N, sinh ngày 21/6/2013 và Trần Phát L, sinh ngày 29/12/2018 cho ông Trần Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà Cao Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về án phí: Bà Cao Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008906 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu (bà H đã nộp đủ).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bà Cao Thị Ngọc H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn C có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tx.Tân Châu;
  • - Chi cục THADS Tx.Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 47/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Ngọc H ly hôn Trần Văn C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger