|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/HNGĐ - ST.
Ngày: 02/6/2025.
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Ngô Thị Luân.
- Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2025/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên Tòa số 16/2025/QĐST - DS ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Quàng Thị Ngọc H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Thái Q, sinh năm: 1974.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Q vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn bà Quàng Thị Ngọc H trình bày:
Bà và ông Q xây dựng gia đình với nhau vào năm 2002, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2003. Sau khi kết hôn về với nhau cuộc sống chung của vợ chồng ông bà có rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống lối sống. Vợ chồng ông bà không có tiếng nói chung. Vợ chồng ông bà đã nhiều lần ngồi nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Ông Q thường xuyên say sỉn, đập phá đồ đạc trong gia đình, có hành vi bạo lực đối với bà và gen tuông vô cớ. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng ông bà có 03 con chung là cháu Thái Phan Mỹ L, sinh ngày 22/12/2003; cháu Thái Thiện L1, sinh ngày 08/7/2005 và cháu Thái Bảo A, sinh ngày 18/9/2017. Hiện nay cháu L, cháu L1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu A bà yêu cầu được nuôi và yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000đ/tháng cho đến khi đủ tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cùng giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với ông Thái Q nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà H. Xử cho bà Quàng Thị Ngọc H và ông Thái Q được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Thái Bảo A, sinh ngày 18/9/2017 cho bà H có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông Q phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định vợ chồng ông bà không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Quàng Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Thái Q vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt bà H, ông Q theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Q xây dựng gia đình với nhau vào năm 2003 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2003 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà H xác định mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên bà H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Q. Bà H cho rằng sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng ông bà có rất nhiều mâu thuẫn, bất đồng, cãi nhau thường xuyên. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ông bà bất đồng với nhau về quan điểm sống lối sống. Vợ chồng ông bà không có tiếng nói chung. Vợ chồng ông bà đã nhiều lần ngồi nói chuyện để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Ông Q thường xuyên say sỉn, đập phá đồ đạc trong gia đình, có hành vi bạo lực đối với bà và gen tuông vô cớ. Nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Q đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ ông Q cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H. Đồng thời qua xác minh thì được biết trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng ông bà thường xuyên sảy ra bất đồng với nhau. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, xử cho bà H và ông Q được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: Bà H xác định vợ chồng ông bà 03 con chung là cháu Thái Phan Mỹ L, sinh ngày 22/12/2003; cháu Thái Thiện L1, sinh ngày 08/7/2005 và cháu Thái Bảo A, sinh ngày 18/9/2017. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu A. Xét thấy hiện nay cháu L, cháu L1 đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên Tòa án không xem xét giải quyết giao các cháu cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với cháu A đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với bà H. Nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Thái Bảo A, sinh ngày 18/9/2017 cho bà H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà H yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000đ/tháng. Xét thấy số tiền bà H yêu cầu là phù hợp với quy định nên cần buộc ông Q phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000đ/tháng là phù hợp. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 6/2025 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.
[4] Về tài sản chung: Bà H xác định về tài sản chung vợ chồng ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Bà H xác định vợ chồng ông bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc bà Quàng Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật. Buộc ông Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn ly hôn của bà Quàng Thị Ngọc H, xử cho bà Quàng Thị Ngọc H và ông Thái Q được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Thái Bảo A, sinh ngày 18/9/2017 cho bà Quàng Thị Ngọc H có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của con. Ông Thái Q có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 1.000.000đ/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi chung từ tháng 6/2025 cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành theo quy định của pháp luật.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc bà Quàng Thị Ngọc H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005235 ngày 11 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Thái Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu Dũng |
Bản án số 47/2025/HNGĐ - ST. ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 47/2025/HNGĐ - ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hằng - Quang
