|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DS-ST;
Ngày: 30/5/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHÓ. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Khánh
Bà Nguyễn Thị Lệ Thu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 30/5/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86a/2025/QĐXXST-DS ngày 09/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 93/2025/QĐST-DS ngày 19/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ngân hàng TMCP V. Trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Tầng D, Số A đường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Công ty Cổ phần M. Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Tầng E, Số A đường P, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm: 1975 và ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1970. Địa chỉ: tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Bà D đề nghị xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt lần 2 không rõ lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hộ kinh doanh Lan Q Phường I. Địa chỉ: C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Chủ hộ kinh doanh: Anh Nguyễn Lâm T, sinh năm: 1990. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 2002. Địa chỉ: C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản trình bày, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M trình bày:
Theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2025/VPB-JUPITER ngày 28/02/2025 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V với Công ty Cổ Phần M (Công ty M) thì Ngân hàng đồng ý bán và Công Ty M đồng ý mua 90% khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1975 bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà Ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D đã ký kết với Ngân hàng.
Ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D vay vốn của Ngân hàng theo các Hợp đồng tín dụng như sau:
- Hợp đồng cho vay số 10076453 ký ngày 30/11/2023 và Khế ước nhận nợ kèm theo. Hạn mức cho vay: 4.379.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng (Bằng chữ: Mười hai tháng) tính từ ngày các bên ký Hợp đồng. Lãi suất trong hạn: 5%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày) và được điều chỉnh theo quy chế cho vay của Ngân hàng
- Hợp đồng cho vay số LN2204125557866 ký ngày 22/04/2022. Số tiền cho vay: 3.950.000.000 đồng. Thời hạn cho vay: 180 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho Bên vay. Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn mở rộng, phát triển kinh doanh. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 10%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày) và điều chỉnh theo cơ chế cho vay của Ngân hàng.
Để bảo đảm cho nghĩa vụ tại các hợp đồng tín dụng trên, tại hợp đồng thế chấp ký ngày 20/04/2022, ông H và bà D đã thế chấp tài sản bảo đảm là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất có diện tích 100.0m² thuộc thửa đất số: số cũ A (số mới: 98), tờ bản đồ số: số cũ 00 (số mới: 68), tọa lạc tại địa chỉ: Khu dân cư N số C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng do bà Lê Thị Mỹ D và ông Nguyễn Thanh H đứng tên chủ sở hữu/sử dụng Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH240440, Số vào sổ cấp GCN: CH02202 do UBND quận C, TP Đà Nẵng cấp ngày 14/12/2011.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng trên, ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 30/11/2024 đối với Ngân hàng và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện về mặt thời gian để thanh toán nợ, tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tạm tính đến ngày 30/05/2025, ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D còn nợ Ngân hàng và công ty M số tiền 8.559.061.422 đồng trong đó: Nợ gốc là 7.270.615.506 đồng và Nợ lãi là 1.288.445.916 đồng
Đồng nguyên đơn đề nghị xem xét, giải quyết các yêu cầu sau:
- - Buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng đối với Ngân hàng và công ty M theo tỷ lệ quy định trong Hợp đồng mua bán nợ, số tiền 8.559.061.422 đồng trong đó: Nợ gốc là 7.270.615.506 đồng và Nợ lãi là 1.288.445.916 đồng.
- - Trường hợp ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng và J có quyền yêu cầu xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất có diện tích 100.0m² thuộc thửa đất số: số cũ A (số mới: 98), tờ bản đồ số: số cũ 00 (số mới: 68), tọa lạc tại địa chỉ: Khu dân cư N số C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng do bà Lê Thị Mỹ D và ông Nguyễn Thanh H đứng tên chủ sở hữu/sử dụng Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH240440, Số vào sổ cấp GCN: CH02202 do UBND quận C, TP Đà Nẵng cấp ngày 14/12/2011.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D trình bày:
Ông Nguyễn Thanh H mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt, không có lý do chính đáng. Bà Lê Thị Mỹ D thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Đại diện hộ kinh doanh L - ông Nguyễn Lâm T trình bày: Hộ kinh doanh của ông hiện đang quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất của bà D và ông H để kinh doanh dịch vụ theo Hợp đồng thuê do ông Nguyễn Hoàng T1 ký kết. Việc ông H và bà D thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn thì ông hoàn toàn không biết. Do đó, về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông không có ý kiến gì.
- Ông Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Ông là người ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với ông H và bà D. Hiện nay H1 kinh doanh Lan Q Phường I đang quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất của bà D và ông H để kinh doanh dịch vụ theo Hợp đồng thuê do ông ký kết. Việc ông H và bà D thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn thì ông hoàn toàn không biết. Do đó, về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông không có ý kiến gì.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng:
- + Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa; những người tham gia tố tụng chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- + Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M, buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP V. Trường hợp ông bà không thanh toán được toàn bộ nợ gốc và lãi thì Ngân hàng và công ty được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện VKSND quận Cẩm Lệ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP V và bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D có ký kết Hợp đồng tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong quá trình giải quyết, Ngân hàng đã bán 90% số nợ từ Hợp đồng tín dụng trên cho công ty M. Do ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng và Công ty khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền nợ. Do đó, HĐXX xác định tranh chấp giữa các bên là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D có địa chỉ tại: C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông H và bà D thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
- Về việc giải quyết vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: tại phiên tòa, ông H được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Các đương sự còn lại đều có đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và 228 BLTTDS, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.
Về nội dung
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và Công ty J1 yêu cầu buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D thanh toán tổng số nợ 8.559.061.422 đồng gồm: Nợ gốc 7.270.615.506 đồng, Nợ lãi 1.288.445.916 đồng.
- Ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D và Ngân hàng ký kết các Hợp đồng cho vay số 10076453 ký ngày 30/11/2023 và Hợp đồng cho vay số LN2204125557866 ký ngày 22/04/2022. Theo đó, Ngân hàng cho ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D vay tiền để mở rộng sản xuất kinh doanh được giải ngân theo từng đợt. Lãi suất cho vay và lãi suất quá hạn được thực hiện theo quy định của Ngân hàng và được quy định trong Hợp đồng tín dụng.
- HĐXX nhận thấy, căn cứ khoản 4 và khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo hồ sơ vụ án, các bên ký kết Hợp đồng tín dụng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Hợp đồng tín dụng đã giao kết có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 463 BLDS và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh H không có ý kiến phản đối và bà Lê Thị Mỹ D có văn bản thừa nhận việc ký kết Hợp đồng tín dụng.
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D số tiền theo từng đợt như các khế ước nhận nợ và bà D đều thừa nhận. Ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo hợp đồng. Đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi suất của Ngân hàng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về tiền nợ gốc: Bị đơn đã nhận đủ số tiền vay theo các Hợp đồng tín dụng đã giao kết. Vấn đề này đã được bà D thừa nhận và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong vụ án. Ông H đã ký vào Hợp đồng vay và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng và trong quá trình giải quyết, bị đơn đều thừa nhận việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Giấy nhận nợ và Hợp đồng tín dụng. Do đó, căn cứ Điều 466 BLDS 2015, HĐXX chấp nhận yêu cầu của đồng nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền nợ gốc là 7.270.615.506 đồng.
- Về tiền lãi: Ngân hàng và ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D ký hợp đồng tín dụng, thỏa thuận về lãi suất linh hoạt theo quy định của Hợp đồng, các khế ước nhận nợ và của Ngân hàng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Việc ký kết thỏa thuận về lãi suất hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với khoản 2, 3 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và Công ty M, buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D phải thanh toán tiền lãi tính theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên đến ngày 30/5/2025 là 1.288.445.916 đồng. Đồng thời, căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-TP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng đối với số tiền còn nợ theo lãi suất quy định trong các Hợp đồng cho vay, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Do giữa Ngân hàng và Công ty M có Hợp đồng mua bán nợ số 01/2025/VPB-JUPITER ngày 28/02/2025 và Phụ lục đính kèm, theo đó, Ngân hàng chuyển nhượng cho Công ty 90% khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác theo Hợp đồng tín dụng, do đó, số tiền ông H và bà D thanh toán theo các Hợp đồng tín dụng cũng được chia theo tỷ lệ tương ứng.
Từ những phân tích trên, HĐXX có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và Công ty M, buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D trả nợ cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/5/2025 là 8.559.061.422 đồng, trong đó nợ gốc: 7.270.615.506 đồng, Nợ lãi: 1.288.445.916 đồng theo tỷ lệ được quy định trong Hợp đồng mua bán nợ của các bên, theo đó Ngân hàng được thanh toán tỷ lệ 10% tương ứng với số tiền: 855.906.142 đồng, trong đó nợ gốc: 727.061.550 đồng, Nợ lãi: 128.844.592 đồng; Công ty M được thanh toán tỷ lệ 90% tương ứng với số tiền: 7.703.155.280 đồng, trong đó nợ gốc: 6.543.553.956 đồng, Nợ lãi: 1.159.601.324 đồng. Ông bà tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng đối với số tiền còn nợ theo lãi suất quy định trong các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 31/5/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ
- Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay tại Ngân hàng TMCP V, ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất có diện tích 100.0m² thuộc thửa đất số: số cũ A (số mới: 98), tờ bản đồ số: số cũ 00 (số mới: 68), tọa lạc tại địa chỉ: Khu dân cư N số C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại VPCC Trần Văn H2 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
- HĐXX nhận thấy: Hợp đồng này được ký kết tự nguyện giữa các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và được công chứng, được đăng ký bảo đảm nên có hiệu lực thi hành theo quy định tại các Điều 117, 118, 119, 298, 317, 401 BLDS 2015. Do ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D không thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nên tài sản thế chấp được xử lý theo yêu cầu của Ngân hàng là đúng theo quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 303 BLDS 2015 và Nghị định số ị định 163/2006/NĐ-CP" 21/2021/NĐ-CPthi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
- Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V và Công ty M, trường hợp ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đồng nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất có diện tích 100.0m² thuộc thửa đất số: số cũ A (số mới: 98), tờ bản đồ số: số cũ 00 (số mới: 68), tọa lạc tại địa chỉ: Khu dân cư N số C L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng do bà Lê Thị Mỹ D và ông Nguyễn Thanh H đứng tên chủ sở hữu/sử dụng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH240440, Số vào sổ cấp GCN: CH02202 do UBND quận C, TP Đà Nẵng cấp ngày 14/12/2011.
- Từ những nhận định trên, HĐXX cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V và Công ty M, buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D trả nợ cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/03/2025 là 8.559.061.422 đồng, trong đó: nợ gốc: 7.270.615.506 đồng, nợ lãi: 1.288.445.916 đồng theo tỷ lệ tương ứng với Hợp đồng mua bán nợ và tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tương ứng đối với số tiền còn nợ theo lãi suất quy định trong Hợp đồng cho vay, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp ông bà không thanh toán hoặc thanh toán không đủ thì Ngân hàng và Công ty M có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V và Công ty M được chấp nhận là: 116.559.061 đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền án phí còn lại đã nộp.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng, buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng và Công ty đã tạm ứng (đã nộp và đã chi).
- Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 296, 299, khoản 7 Điều 323, Điều 303, Điều 463; Điều 466, Điều 469 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Khoản 1 Điều 147, 157, 227, 228, Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M đối với ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D.
Buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M số tiền tính đến ngày 30/5/2025 là 8.559.061.422 đồng, trong đó nợ gốc: 7.270.615.506 đồng, nợ lãi: 1.288.445.916 đồng, theo tỷ lệ được quy định trong Hợp đồng mua bán nợ của các bên, theo đó Ngân hàng TMCP V được thanh toán tỷ lệ 10% tương ứng với số tiền: 855.906.142 đồng, trong đó nợ gốc: 727.061.550 đồng, Nợ lãi: 128.844.592 đồng; Công ty Cổ phần M được thanh toán tỷ lệ 90% tương ứng với số tiền: 7.703.155.280 đồng, trong đó nợ gốc: 6.543.553.956 đồng, Nợ lãi: 1.159.601.324 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 31/5/2025), ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D còn phải chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Xử lý tài sản thế chấp:
- - Trường hợp ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất có diện tích 100.0m² thuộc thửa đất số: số cũ A (số mới: 98), tờ bản đồ số: số cũ 00 (số mới: 68), tọa lạc tại địa chỉ: Khu dân cư N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng do bà Lê Thị Mỹ D và ông Nguyễn Thanh H đứng tên chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH240440, Số vào sổ cấp GCN: CH02202 do UBND quận C, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14/12/2011.
- - Trường hợp bà Lê Thị Mỹ D và ông Nguyễn Thanh H thanh toán toàn bộ khoản nợ, Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M phải trả lại cho ông bà Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH240440, Số vào sổ cấp GCN: CH02202 do UBND quận C, TP Đà Nẵng cấp ngày 14/12/2011.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D phải chịu 116.559.061 đồng.
Ngân hàng TMCP V được hoàn trả lại số tiền 25.791.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000730 ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 5.000.000 đồng (đã nộp và đã chi), ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D phải chịu. Buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Lê Thị Mỹ D có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M số tiền 5.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng và Công ty đã tạm ứng.
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu H3 |
Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 47/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V. Trụ sở: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. - Bị đơn: bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm: 1975 và ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1970. Địa chỉ: tổ 4, phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Dung đề nghị xét xử vắng mặt, ông Huy vắng mặt lần 2 không rõ lý do. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Hộ kinh doanh Lan Quế Phường I. Địa chỉ: đường H, phường P, quận L, thành phố Đà Nẵng. 2. Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 2002. Địa chỉ: đường H, phường P, quận L, thành phố Đà Nẵng.
