TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DS-ST Ngày: 26/3/2025 V/v tranh chấp “Đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Bé Bảy
Ông Lê Văn Kiệt
-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa:
Không có.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 508/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QÐST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QÐST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 61/2025/QÐST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Phước H, sinh năm 1956. Có mặt
Địa chỉ: số B L, Phường Ẹ, TP M, Tiền Giang
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc D sinh năm 1983. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ B ấp P, xã P, TP M, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Hà Phước H trình bày:
Ông làm nghề buôn bán quán ăn, mẹ chồng chị D buôn bán rau ở chợ, chị D có phụ mẹ buôn bán, ông thường mua rau nên hai bên có biết nhau nhiều năm. Sau đó, chị D tách ra buôn bán riêng, ông mua của cả hai bên, thành mối quen. Từ đó, chị D thường hỏi vay mượn tiền và vàng của ông. Đối với tiền chị D đã trả hết cho ông, còn vàng thì chưa. Ban đầu chị D mượn 01 chỉ vàng miếng SJC, hai bên chỉ thỏa thuận miệng chứ không làm giấy tờ, lãi chị D hứa trả cho ông mỗi tháng 100.000 đồng, sau nhiều lần mượn thì khi số vàng lên đến 06 chỉ vàng SJC thì chị D mới làm biên nhận cho ông vào ngày 25/6/2011, lãi thỏa thuận 100.000 đ/chỉ/tháng, sau đó khoảng vài tháng chị D có mượn thêm 01 chỉ vàng SJC, không làm biên nhận mới mà sửa vào biên nhận cũ. Toàn bộ chữ ký, chữ viết trong biên nhận là do chị D viết và ký ghi họ tên. Thời hạn vay là không thời hạn, khi nào ông cần thì báo trước 01 tháng cho chị D trả lại vàng. Sau khi làm biên nhận, chị D có trả lãi cho ông theo thỏa thuận được một thời gian ngắn thì ngưng. Năm 2013 ông khởi kiện, chị D năn nỉ ông rút đơn để chị trả dần nên ông rút đơn lại, tuy nhiên chị D không giữ lời mà cứ hứa hẹn, không trả vốn cũng như trả lãi, kéo dài đến năm 2023 thì ông lại khởi kiện, chị D lại năn nỉ ông rút đơn, chị sẽ trả tiền cho ông trong 03 tháng để đủ mua 01 chỉ vàng SJC, tin lời nên ông rút đơn. Lần này, chị D có trả cho ông tiền, ngày 11/9/2023 trả tiền ông mua 01 chỉ vàng SJC, ngày 28/5/2024 trả tiền ông mua được 01 chỉ vàng SJC nữa, đến ngày 10/8/2024 đưa cho ông 3.000.000 đồng rồi không trả nữa, điện thoại cũng chặn nên sau đó ông đi khởi kiện.
Tính đến ngày khởi kiện, chị D đã trả cho ông được 02 chỉ vàng SJC và 3.000.000 đồng. Theo quy định pháp luật cá nhân không được cho vay vàng nên nay ông thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chị D trả 05 chỉ vàng SJC, tính ra tiền bao nhiêu thì ông đồng ý trừ lại số tiền 3.000.000 đồng chị D đưa ngày 10/8/2024, yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Ngọc D đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa, ông H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày. Chị D vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc D được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ ba mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D.
- Về nội dung tranh chấp
- [2.1] Ông Hà Phước H khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc D trả số vàng còn nợ là 05 chỉ vàng SJC, đồng ý trừ lại 3.000.000 đồng ông đã nhận. Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Biên nhận ngày 25/6/2011, Giấy cam kết (không ghi ngày tháng năm).
- [2.2] Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến ngày xét xử, bị đơn Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.
- [2.3] Chị Nguyễn Thị Ngọc D không có văn bản nêu ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dù đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần và được thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Xét thấy, qua lời trình bày của nguyên đơn và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn cũng không có ý kiến phản đối gì nên căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh.
- [2.4] Xét, theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì có đủ cơ sở xác định chị D có vay mượn của ông Hà Phước H là 07 chỉ vàng SJC từ ngày 25/6/2011, không có thời hạn mà khi cần lấy lại báo trước 01 tháng, sau đó chị D có trả được vài tháng tiền lãi thì ngưng không trả nữa, vốn cũng không trả dù ông H có yêu cầu trả. Theo bản cam kết (không ghi ngày tháng năm) do chính chị D viết thì chị D xác nhận có mượn của ông H 07 chỉ vàng SJC, cam kết với ông H là sẽ trả tiền cho ông H 03 tháng mua 01 chỉ vàng trong vòng 21 tháng cho đủ 07 chỉ vàng kể từ ngày 10/8/2023 đến ngày 10/3/2025. Theo ông H, sau khi làm giấy cam kết thì đến ngày 11/9/2023 chị D đã trả tiền để ông H mua được 01 chỉ vàng, ngày 28/5/2024 trả mua thêm được 01 chỉ vàng, ngày 10/8/2024 trả 3.000.000 đồng rồi không trả nữa nên ông khởi kiện. Như vậy có đủ cơ sở xác định chị D có mượn của ông H 07 chỉ vàng SJC từ năm 2011 và còn nợ, đã trả dần được 02 chỉ vàng SJC và số tiền 3.000.000 đồng vào ngày 10/8/2024 rồi không trả tiếp nên ông H có quyền khởi kiện để đòi lại theo quy định. Do đó nay ông H khởi kiện yêu cầu chị D trả số vàng là 05 chỉ vàng SJC, trừ lại 3.000.000 đồng đã nhận, yêu cầu này là phù hợp với quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Vàng SJC ngày 26/3/2025 giá bán ra được niêm yết là 9.800.000 đồng/chỉ
T tiền: 05 chỉ x 9.800.000 đồng = 49.000.000 đồng. Trừ lại 3.000.000 đồng đã nhận, còn lại là 46.000.000 đồng.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, 92, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166, 357 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hà Phước H.
- Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc D có nghĩa vụ trả cho ông Hà Phước H 05 chỉ vàng SJC, tương đương số tiền 46.000.000 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có yêu cầu thi hành án, trường hợp chị D chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc D chịu số tiền 2.300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông H được miễn tạm ứng án phí.
- Về quyền kháng cáo: Ông H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: -VKSND TP Mỹ Tho; -Chi cục THADS Tp Mỹ Tho; -TAND tỉnh TG; -Các đương sự; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bảnh |
Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp “đòi tài sản”
- Số bản án: 47/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Đòi tài sản”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu trả vàng
