TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do -Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DS-ST
Ngày: 24/6/2025
V/v Tranh chấp thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên; Bà Vũ Thị Dung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 127/2024/TLST-DS ngày 25/11/2024 về việc “Tranh chấp thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số A Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Xóm G, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Xóm E, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973; ĐKHKTT: Thôn Q, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt
- + Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- + Bà Trần Thị C, sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm G, thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- + Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị S1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị C2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị M2, sinh năm 1994; ĐKHKTT: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương; Đang làm việc tại Nhật Bản. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị X, bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C1, chị Nguyễn Thị S1, chị Nguyễn Thị C2, chị Nguyễn Thị M2: Công ty L; Người được cử đại diện tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hà M3, sinh năm 1987 và anh Lê Bá C3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số A L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà khởi kiện yêu cầu chia di sản của mẹ bà cụ Nguyễn Thị D là quyền sử dụng đất thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ 01, địa chỉ thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà như sau:
Bố mẹ đẻ của bà là cụ Nguyễn Hữu C4, sinh năm 1929, chết ngày 10/5/2009 và cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1934, chết ngày 24/2/2016. Hai cụ sinh được 6 người con là: Ông Nguyễn Hữu M4, sinh năm 1952, chết ngày 10/11/2010 (ông M4 có vợ là bà Phạm Thị Đ và có 02 người con là Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị H1); ông Nguyễn Hữu M5, sinh năm 1959, chết ngày 31/12/2016 (ông M5 có vợ là bà Trần Thị C và có 04 người con là Nguyễn Thị C1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị C2, Nguyễn Thị M2); bà Nguyễn Thị M; bà Nguyễn Thị M1; bà Nguyễn Thị S; bà Nguyễn Thị X. Ngoài 06 người con chung các cụ không có con nuôi, con riêng nào khác. Bố mẹ đẻ của cụ D là cụ Nguyễn Lộc Đ1, Nguyễn Thị S2; bố mẹ đẻ của cụ C4 là cụ Nguyễn Hữu B, Nguyễn Thị N; các cụ đều chết trước cụ C4, cụ D
Nguồn gốc thửa đất 26b, 63 tờ bản đồ 01 là một phần diện tích trong thửa đất 26, 63 tờ bản đồ 01 thuộc quyền sử dụng của cụ D, cụ C4. Quá trình sinh sống các cụ có xây dựng được ngôi nhà cấp 4, công trình phụ. Các anh chị em bà khi trưởng thành lập gia đình đều ra ở riêng chỉ còn vợ chồng ông M5 với hai cụ. Khi cụ C4 còn sống có nói ông M4 đã được bố mẹ mua đất cho ra ở riêng, thửa đất của bố mẹ sau này sẽ cho ông M5 một nửa, còn lại cho các cô con gái một phần và một phần để lại làm nhà thờ. Sau khi cụ C4 mất, vào ngày 20 tháng 7 năm 2010, cụ D và toàn bộ các con gồm ông M4, ông M5, bà M, bà M1, bà S, bà X đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại UBND xã H (nay là UBND xã K). Theo đó đã thống nhất thỏa thuận thửa đất của cụ C4, cụ D có tổng diện tích 636m², hai cụ mỗi người sử dụng ½ thửa đất, phần di sản của cụ C4 tặng cho ông M5, ông M5 được sử dụng 318m², cụ D được sử dụng 318m². Sau đó ông M5 và cụ D đã được cấp GCNQSDĐ. Thửa đất của cụ D sau khi được cấp GCNQSDĐ là thửa 26b, 63 tờ bản đồ 01 diện tích 318m² (trong đó 150m² đất ở, 124m² đất trồng cây, 44m² đất nuôi trồng thủy sản). Phần đất của cụ D và ông M5 đã được xây thành khuôn viên tách biệt. Cụ D sống một mình, bà M1 ở gần đi lại thăm nom, chăm sóc cụ. Năm 2016 cụ D mất. Do ngôi nhà của cụ để lại đã xuống cấp nên đầu năm 2024, chị em bà gồm: bà C, bà M1, bà S, bà X đã đóng góp tiền tháo dỡ ngôi nhà cũ, xây một ngôi nhà mới để làm nhà thờ. Sau khi xây dựng nhà thờ xong chị em bà bàn bạc phân chia thửa đất nhưng anh H là cháu trưởng không đồng ý mà đòi sử dụng toàn bộ thửa đất. Do đó đã xảy ra tranh chấp, nay bà đề nghị Tòa án giải quyết phân chia thừa kế theo quy định. Bà, bà M1, bà S đề nghị giao chung cho các bà một phần đất ở tại vị trí có ngôi nhà thờ do các bà xây dựng.
Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn H phải trả lại các bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ D đối với thửa đất nêu trên. Tuy nhiên sau đó bà đã rút yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung đó.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thì diện tích theo hiện trạng của thửa đất giảm hơn so với GCNQSDĐ lý do là vì có sự thống nhất về mốc giới với các hộ giáp ranh, bà đề nghị giải quyết theo hiện trạng. Năm 1993 hộ gia đình cụ C4 gồm 6 nhân khẩu được cấp đất nông nghiệp gồm cụ C4, cụ D, bà M, bà M1, bà S, bà X và có bị trừ đất tiêu chuẩn ngoài ruộng vào đất vườn thừa. Bà xác định phần đất vườn thuộc đất của hộ gia đình các con đã cho cụ C4, cụ D1. Xác định toàn bộ diện tích đất thuộc thửa 26b, 63 tờ bản đồ 01 là di sản của cụ D. Đối với một số cây lâu năm do cụ D trồng tuy nhiên do giá trị không lớn nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh là con trai của ông Nguyễn Hữu M4. Đối với các nội dung trình bày của bà M về thời điểm mất, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C4, cụ D, ông M4, ông M5, nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất 26b, 63 tờ bản đồ 01 như bà M trình bày là đúng. Anh nhất trí xác định thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ 01 là di sản của cụ D. Đối với phần đất gia đình đã thỏa thuận tặng cho ông M5, ông M5 đã được cấp GCNQSDĐ anh không có ý kiến gì. Nhất trí đề nghị giải quyết diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng. Đối với một số cây lâu năm trên đất giá trị không lớn không yêu cầu giải quyết.
Khi cụ D còn sống, cụ có nói với anh đất của các cụ đã cho ông M5 một nửa, còn lại một nửa cho bố anh là con trai trưởng của cụ, ông M4 đã chết nên cụ cho anh để sau này thờ cúng tổ tiên. Nhiều lần cụ D yêu cầu anh đưa cụ ra UBND xã để lập di chúc tặng cho đất. Nhưng do thời điểm đó mọi người trong gia đình đều hòa thuận, anh nghĩ không cần thiết nên đã không đưa cụ đi. Thời gian đầu sau khi cụ D mất không ai có ý kiến gì về việc chia thừa kế. Đến đầu năm 2024, bà M1, bà M, bà S, bà X có ý định lấy đất của các cụ nên đã về phá ngôi nhà cũ đi và xây dựng một ngôi nhà mới. Sau đó yêu cầu anh đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ. Anh đã động viên và đưa ra hướng giải quyết là đề nghị các cô để lại cho anh ½ thửa đất, các cô sử dụng ½ thửa đất. Phần đất anh lấy chỉ để xây nhà thờ vì anh là cháu trai trưởng trong gia đình. Nhưng các cô anh không đồng ý và khởi kiện đến Tòa án yêu cầu chia thừa kế. Anh đề nghị Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của cụ D theo quy định của pháp luật còn phần di sản của anh và chị Nguyễn Thị H1 được hưởng đề nghị giao cho anh bằng hiện vật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S:
Nhất trí quan điểm của bà M, đề nghị giao chung cho các bà và bà M một phần đất ở vị trí có ngôi nhà thờ do các bà xây dựng. Nhất trí đề nghị giải quyết diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng, xác định đất của hộ gia đình đã cho các cụ nên không còn và không có yêu cầu gì. Đối với một số cây lâu năm trên đất giá trị không lớn không yêu cầu giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X trình bày:
Nhất trí với trình bày của bà M về thời điểm mất, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C4, cụ D, ông M4, ông M5, nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ 01. Nhất trí đề nghị giải quyết diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng và quan điểm của các đương sự khác về đất của hộ gia đình. Đối với một số cây lâu năm trên đất giá trị không lớn không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Tòa án giải quyết phân chia thừa kế di sản của cụ D theo quy định của pháp luật, đề nghị giao cho bà một phần đất vì hiện nay bà không có chỗ ở. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2018, bà làm phụ hồ, không có điều kiện tạo lập chỗ ở mới, phải ở nhờ nhà bà M1, bà C và có lúc phải ở lại công trường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C1, chị Nguyễn Thị S1, chị Nguyễn Thị C2, chị Nguyễn Thị M2 trình bày:
Nhất trí trình bày của bà M về thời điểm mất, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C4, cụ D, ông M4, ông M5, nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ 01. Nhất trí đề nghị giải quyết diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng và quan điểm của các đương sự khác về đất của hộ gia đình. Đối với một số cây lâu năm trên đất của cụ D để lại giá trị không lớn không yêu cầu giải quyết. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà M, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Phần di sản bà và các chị được nhận tự nguyện tặng cho bà X vì hiện nay bà X là người khó khăn nhất về kinh tế, chưa có chỗ ở. Do công việc bận nên đề nghị Tòa án cho bà và các chị được vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
Nhất trí với các quan điểm của anh H. Phần di sản chị được hưởng chị tự nguyện tặng cho anh H. Do công việc bận nên đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng.
Người làm chứng bà Phạm Thị Đ trình bày:
Bà là vợ của ông Nguyễn Hữu M4. Về thời điểm mất, hàng thừa kế của cụ C4, cụ D, ông M4, ông M5 như các đương sự khác trình bày là đúng. Thửa đất đang có tranh chấp nguồn gốc là của cụ C4, cụ D. Khi các cụ còn sống có nói cho ông M4, ông M5 mỗi người ½ thửa đất, phần đất cho ông M5 đã làm thủ tục xong còn đất cho ông M4 cụ chưa kịp làm thủ tục thì ông M4 chết. Nay bà M khởi kiện chia di sản thừa kế bà xác định bà là con dâu của các cụ không được hưởng thừa kế nên không có yêu cầu gì. Đề nghị xem xét quyền lợi của anh H, chị H1, giao cho anh H sử dụng toàn bộ thửa đất để anh H thờ cúng tổ tiên. Do sức khỏe yếu không đi lại được đề nghị Tòa án cho bà vắng mặt tại phiên tòa.
Theo biên bản xác minh, biên bản làm việc và các tài liệu do UBND xã K cung cấp thể hiện:
Cụ Nguyễn Hữu C4, sinh năm 1929, chết ngày 10/05/2029. Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1934, chết ngày 24/02/2016. Bố mẹ đẻ của cụ D là cụ Nguyễn Lộc Đ1 và cụ Nguyễn Thị S2. Bố mẹ đẻ của cụ C4 là Nguyễn Hữu B và Nguyễn Thị N. Các cụ đều đã chết từ lâu, chết trước, cụ C4, cụ D. Cụ C4 và cụ D có 6 người con là: ông Nguyễn Hữu M4, ông Nguyễn Hữu M5, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị X. Hai cụ không có con nuôi, con riêng nào khác. Ông Nguyễn Hữu M4, sinh năm 1952, chết ngày 10/11/2010. Ông M4 có vợ là bà Phạm Thị Đ và hai người con là anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị H1. Ông Nguyễn Hữu M5, sinh năm 1959, chết ngày 31/12/2016. Ông M5 có vợ là bà Trần Thị C và 4 người con là Nguyễn Thị C1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị C2, Nguyễn Thị M2.
Về nguồn gốc thửa đất 63, 26B, tờ bản đồ số 01 : Theo hồ sơ đăng ký thực hiện Chỉ thị 299/CT-TTg, ký duyệt năm 1985 (viết tắt là 299) thể hiện là thửa 58 tờ bản đồ số 05, diện tích 629m², loại đất thổ cư, ghi tên chủ sử dụng ông Nguyễn Hữu C4. Theo hồ sơ địa chính đo đạc năm 1990 gồm 2 thửa thửa 26 tờ bản đồ số 01, diện tích 592m², loại đất thổ cư và thửa 63 tờ bản đồ số 01, diện tích 44m² loại đất nuôi trồng thủy sản, kê khai tên người sử dụng cụ Nguyễn Hữu C4. Theo danh sách theo dõi cấp GCNQSDĐ cụ D được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số A 842636 đối với thửa đất số 26, 63 tờ bản đồ số 01, diện tích 636m² (trong đó đất ở 300m², đất vườn 292m², đất nuôi trồng thủy sản 44m²). Theo hồ sơ địa chính đo đạc năm 2013 gồm 2 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 43, tổng diện tích là 612m²: Thửa 37 diện tích 219m², kê khai tên người sử dụng cụ Nguyễn Thị D; thửa 38, diện tích 321m² kê khai tên người sử dụng ông Nguyễn Hữu M5. Theo kết quả đo đạc hiện trạng (kèm biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án) diện tích thửa đất có thay đổi, giảm hơn so với GCNQSDĐ, là do chủ sử dụng đất và các hộ giáp ranh liền kề thống nhất về mốc giới. Tại GCNQSDĐ không xác định vị trí các loại đất cụ thể nên xác định phần diện tích giảm là đất trồng cây lâu năm. Về chia ruộng đất nông nghiệp (đất 03) U được số liệu chia ruộng.
Theo biên bản xác minh tại cơ sở thôn và ông Nguyễn Hữu S3 – nguyên đội trưởng đội sản xuất Đ3, thôn P: Năm 1993 hộ gia đình cụ C4 có 6 nhân khẩu là cụ C4, cụ D, bà M, bà M1, bà S, bà X được cấp đất nông nghiệp và có bị trừ 292m² đất tiêu chuẩn ngoài ruộng vào đất vườn thừa. Năm 2014 khi thực hiện dồn ô, đổi thửa hộ của cụ C4 chuyển 2 nhân khẩu là bà M1, bà X về hộ riêng của hai bà. Diện tích đất nông nghiệp chuyển đủ tiêu chuẩn cho hai bà, còn lại hộ cụ C4 còn 4 khẩu được giao 2044m² (đã bị trừ 292m² đất vườn thừa).
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản: 1. Tổng diện tích đất theo hiện trạng sử dụng của thửa 26b, 63 tờ bản đồ 01 = 303,7m² . Giá trị đất tại thửa đất có tranh chấp: Đất ở có giá 10.000.000đ/m²; đất trồng cây lâu năm có giá 80.000đ/m²; đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản có giá 75.000đ/m². 2. Các tài sản trên đất: Nhà ở cấp 4 diện tích 41,3m² trị giá 202.568.848đ; 01 mái tôn trước nhà cấp 4 diện tích 24,8m², trị giá 10.893.974đ; sân lát gạch hoa dưới mái tôn, diện tích 24,8m², có giá 7.467.664₫; sân trạt phía sau nhà, diện tích 14,4m², trị giá 1.429.392đ; nhà vệ sinh diện tích 2,2m² trị giá 5.961.370đ; tường bao giáp đường dài 13,14m, trị giá 11.208.740đ; tường bao giáp đất bà C dài 4m, trị giá 1.918.459đ; tường bao giáp nhà vệ sinh dài 2,2m, trị giá 1.714.623đ; 02 trụ cổng trị giá 1.044.729đ; 02 cánh cổng sắt trị giá 1.620.000đ; 02 cây khế trị giá 528.000đ; 01 cây trứng gà trị giá 265.000đ; 01 cây vối trị giá 300.000đ; 02 cây nhãn trị giá 4.000.000₫.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kế và các quan điểm đã trình bày. Rút yêu cầu khởi kiện về việc đòi anh H phải trả lại GCNQSDĐ.
Bị đơn: Giữ nguyên các quan điểm đã trình bày, đề nghị Tòa án phân chia thừa kế theo pháp luật, đối với phần di sản anh được hưởng đề nghị giao cho anh 1 phần đất để anh sử dụng làm nơi thờ cúng vì anh là cháu trưởng trong gia đình đồng thời là trưởng họ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Giữ nguyên các quan điểm đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương trình bày việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết: Đề nghị HĐXX áp dụng: Các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660, 357, 468 Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc đòi anh Nguyễn Văn H phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị D theo pháp luật. 1. Xác định di sản của cụ D là quyền sử dụng đất thửa đất 26b, 63 tờ bản đồ 01, diện tích 303,7m², trị giá 1.512.076.000đ. 2. Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị D chia thành 6 suất cho: ông M5, bà M, bà M1, bà S, bà X và người thừa kế thế vị của ông M4 (anh H, chị H1); mỗi suất thừa kế được hưởng = 252.012.666đ. Anh H, chị H1 mỗi người được hưởng 126.066.333đ. Phần di sản ông M5 chia cho bà C, chị C1, chị S1, chị C2, chị M2, mỗi người được hưởng 50.402.533đ. Chấp nhận sự tự nguyện của bà M, bà M1, bà S nhập chung phần di sản thừa kế. Chấp nhận sự tự nguyện của bà C, chị C1, chị C2, chị S1, chị M2 tặng cho phần di sản mình được hưởng cho bà X. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H1 tự nguyện tặng cho anh H phần di sản mình được hưởng. 3. Về giao hiện vật : Giao cho bà M, bà M1, bà S một phần đất tại vị trí có ngôi nhà cấp 4 ; giao cho bà X một phần đất ở vị trí còn lại. 4. Về án phí, chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định, miễn án phí bà M, bà C. Bà M tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyên Thị S4, chị Nguyễn Thị C1, chị Nguyễn Thị S1, chị Nguyễn Thị C2, chị Nguyễn Thị M2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng người đại diện theo ủy quyền của họ đã có mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 228 HĐXX vẫn tiến hành xét xử.
Chị Nguyễn Thị M2; Đăng ký thường trú tại: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương; Đang làm việc tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tại đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn H trả lại cho bà GCNQSDĐ của cụ D. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà M rút yêu cầu khởi kiện về việc đòi lại GCNQSDĐ. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà M là tự nguyện, HĐXX đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đòi lại GCNQSDĐ.
[2] Về nội dung: Xem xét yêu cầu khởi kiện của bà M về việc chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị D là quyền sử dụng thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ 01 địa chỉ thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương, HĐXX xem xét đánh giá các nội dung sau:
2.1. Về di sản thừa kế: Căn cứ lời khai của các đương sự, hồ sơ địa chính, GCNQSDĐ có đủ căn cứ xác định thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ 01 địa chỉ thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương thuộc quyền sử dụng của cụ Nguyễn Thị D. Theo xác minh tại Cơ sơ thôn và Đ2 sản xuất Đội 7 thôn P xác định năm 1993 hộ gia đình cụ C4 có 6 nhân khẩu (gồm cụ C4, cụ D, bà M, bà M1, bà S4, bà X) được cấp đất nông nghiệp và bị trừ 292m² đất tiêu chuẩn ngoài ruộng vào đất vườn thừa. Năm 2014 thực hiện dồn ô đổi thửa hộ cụ C4 chuyển tiêu chuẩn ruộng hai nhân khẩu là bà M1, bà X về gia đình riêng. Hộ cụ C4 còn lại 4 khẩu được giao tiêu chuẩn 2.336m² – 292m² đất vườn thừa còn được giao 2.044m². Các đương sự đều thống nhất xác định phần đất thuộc tiêu chuẩn của hộ gia đình các con đã cho bố mẹ. Sau khi cụ C4 chết gia đình đã thống nhất cho toàn bộ phần di sản của cụ C4 cho ông M5 trong đó có phần đất trồng cây lâu năm. Nên xác định toàn bộ thửa đất 26b, 63 tờ bản đồ 01 trong đó có diện tích đất trồng cây lâu năm đều thuộc quyền sử dụng của cụ D, không còn đất của hộ gia đình trong đó. Cụ D chết ngày 24/2/2016, không có di chúc, người được hưởng thừa kế của cụ D chưa phân chia di sản. Do đó bà M yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ D là có căn cứ.
Theo GCNQSDĐ thì thửa đất có diện tích 318m², trong đó đất ở là 150m², đất trồng cây lâu năm 124m², đất nuôi trồng thủy sản 44m². Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì diện tích theo hiện trạng là 303,7m². Theo UBND xã K xác định diện tích đất giảm là do thống nhất mốc giới các các hộ giáp ranh, theo GCNQSDĐ không thể hiện vị trí các loại đất nên không xác định được vị trí các loại đất trên thực địa, xác định phần diện tích đất biến động thuộc đất trồng cây lâu năm. Các đương sự đề nghị giải quyết theo diện tích hiện trạng.
Trên đất hiện nay có các tài sản: Nhà ở cấp 4 trị giá 202.568.848đ; 01 mái tôn trước nhà cấp 4 trị giá 10.893.974đ; sân lát gạch dưới mái tôn trị giá 7.467.664đ; sân trạt phía sau nhà trị giá 1.429.392đ; nhà vệ sinh trị giá 5.961.370đ; tường bao giáp đường trị giá 11.208.740đ; tường bao giáp đất bà C trị giá 1.918.459đồng; tường bao giáp nhà vệ sinh giá 1.714.623đ; 02 trụ cổng trị giá 1.044.729đ; 02 cánh cổng sắt trị giá 1.620.000đ; tổng giá trị = 245.648.000đ. Các đương sự đều thống nhất xác định các tài sản nêu trên là do bà M, bà M1, bà S4, bà X, bà C cùng đóng góp tiền để xây dựng vào năm 2024. Do đó xác định các tài sản nêu trên thuộc quyền sở hữu của bà M, bà M1, bà S4, bà X, bà C.
Ngoài ra trên đất còn một số cây lâu năm gồm: 02 cây khế trị giá 528.000đ; 01 cây trứng gà trị giá 265.000đ; 01 cây vối trị giá 300.000đ; 02 cây nhãn trị giá 4.000.000đ, tổng trị giá = 5.093.000đ. Các đương sự thống nhất xác định các cây lâu năm là tài sản của D, tuy nhiên giá trị không lớn nên không đề nghị giải quyết. Sau này chia thừa kế vào phần đất giao cho ai thì người đó được hưởng, nếu vào đường ranh giới sẽ tự tháo dỡ.
Từ những phân tích trên xác định di sản của cụ D là: Quyền sử dụng đất thửa đất 26b, 63 tờ bản đồ 01, diện tích 303,7m², trị giá = 1.512.076.000đ (trong đó đất ở là 150m² trị giá 10.000.000đ/m², đất nuôi trồng thủy sản 44m² trị giá 75.000đ/m²; đất trồng cây lâu năm 109,7m² trị giá 80.000đ/m²).
Về trích trả công sức: Quá trình giải quyết bà M1 đề nghị trích trả công sức tôn tạo thửa đất cho bà M1. Tại phiên tòa bà M1 thay đổi quan điểm không yêu cầu trích trả công sức, các đương sự khác không ai yêu cầu trích trả công sức đối với di sản thừa kế. Do đó HĐXX không xem xét.
2.2. Về thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế, phân chia di sản thừa kế:
Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1934, mất ngày 24/2/2016, thời điểm mở thừa kế của cụ D là ngày 24/2/2016. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688, Điều 611, khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự thì thời hiệu thừa kế đối với bất động sản là 30 năm kể từ thời điểm mờ thừa kế. Như vậy tính đến thời điểm bà M nộp đơn khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ Nguyễn Thị D vẫn còn.
Tại thời điểm cụ D chết người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ gồm: Ông M5, bà M, bà M1, bà S4, bà X. Anh H, chị H2 là người thừa kế thế vị của ông M4. Như vậy di sản của cụ D được chia thành 6 suất thừa kế, mỗi suất được hưởng phần di sản trị giá là 1.512.076.000đ/6 = 252.012.666đ. Anh H, chị H1 mỗi người được hưởng 252.012.666đ/2 = 126.066.333₫. Ông Nguyễn Hữu M5 đã chết, phần di sản của ông M5 được chia cho người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm bà C, chị C1, chị S1, chị C2, chị M2, mỗi người được hưởng 252.012.666đ/5 = 50.402.533₫
Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S tự nguyện nhập chung phần di sản thừa kế. Bà C, chị C1, chị S1, chị C2, chị M2 tự nguyện tặng cho bà X phần di sản mình được hưởng. Chị H1 tự nguyện tặng cho phần di sản mình được hưởng cho anh H. Như vậy bà M, bà M1, bà S được hưởng phần di sản trị giá = 756.038.000đ; bà X được hưởng phần di sản trị giá = 504.025.333đ; anh H được hưởng phần di sản trị giá = 252.012.666₫.
2.3. Về giao hiện vật:
Các đương sự đều có yêu cầu nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, trên đất có nhiều công trình, tài sản của bà M, bà M1, bà S, bà X, bà C. Bà X trình bày hiện nay chưa có chỗ ở có lúc ở nhờ nhà bà M1, bà C rồi ở lại công trường. Xét thấy: Tại buổi hòa giải ngày 15/5/2025 các đương sự đã thống nhất thỏa thuận, do bà X hiện nay chưa có chỗ ở nên giao cho bà X phần đất còn trống, còn phần đất có ngôi nhà cấp 4 và tài sản trên đất những người thừa kế còn lại cùng sử dụng chung, Tòa án đã lập biên bản hòa giải thành. Tuy nhiên sau đó anh H thay đổi quan điểm, không nhất trí với nội dung hòa giải. Căn cứ vào quy định hạn mức giao đất, hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất có vườn, ao, điều kiện hợp thửa đất, điều kiện tách thửa đất, diện tích đất tối thiểu được tách thửa đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương thì thửa đất chỉ có thể chia thành 2 phần. Do bà M, bà M1, bà S tự nguyện nhập chung phần di sản; bà C, chị C1, chị S1, chị C2, chị M2 tự nguyện tặng cho bà X phần di sản của họ được hưởng. Nên phần di sản mà các bà được hưởng nhiều hơn anh H, phần di sản anh H được hưởng không đủ để nhận bằng hiện vật. Bà C, bà X tự nguyện tặng cho bà M, bà M1, bà S phần giá trị tài sản trên đất của mình. Bà M, bà M1, bà S, bà C tự nguyện không yêu cầu bà X phải trả giá trị tài sản trên đất nếu bà X được giao phần đất giáp nhà ông T. Do đó Hội đồng xét xử giao cho bà M, bà M1, bà S, bà X quyền sử dụng đất bằng hiện vật, anh H sẽ nhận di sản trị giá bằng tiền cụ thể:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, khoản 2 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về việc đòi anh Nguyễn Văn H phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị D.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M. Chia thừa kế di sản của cụ Nguyễn Thị D theo pháp luật.
- Xác định quyền sử dụng đất thửa đất 26b, 63 tờ bản đồ 01, diện tích 303,7m² (trong đó 150m² đất ở, 44m² đất nuôi trồng thủy sản; 109,7m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương, trị giá 1.512.076.000đ (Một tỷ năm trăm mười hai triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị D.
Xác định các các tài sản trên đất gồm: nhà cấp 4, lán tôn, nhà vệ sinh, sân lát gạch, sân trạt bê tông, cổng, tường bao, tổng trị giá = 245.648.000đ là tài sản của bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị C5.
Chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự không yêu cầu giải quyết đối với các cây trồng lâu năm trên đất gồm 01 cây vối, 2 cây nhãn, 02 cây khế, 01 cây trứng gà.
- Di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị D chia thành 6 suất cho những người được hưởng thừa kế gồm: ông Nguyễn Hữu M5, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị X và người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Hữu M4 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị H1; mỗi suất thừa kế được hưởng là 1.512.076.000đ/6 = 252.012.666đ (Hai trăm năm mươi hai triệu không trăm mười hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị H1 mỗi người được hưởng phần di sản trị giá 252.012.666đ/2 = 126.066.333đ (Một trăm hai mươi sáu triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Phần di sản ông Nguyễn Hữu M5 được hưởng chia cho bà Trần Thị C, chị Nguyễn Thị C1, chị Nguyễn Thị S1, chị Nguyễn Thị C2, chị Nguyễn Thị M2, mỗi người được hưởng 252.012.666đ/5 = 50.402.533đ (Năm mươi triệu bốn trăm linh hai nghìn năm trăm ba mươi ba đồng).
Chấp nhận sự tự nguyện của bà M, bà M1, bà S nhập chung phần di sản thừa kế. Chấp nhận sự tự nguyện của bà C, chị C1, chị C2, chị S1, chị M2 tặng cho phần di sản mình được hưởng cho bà X. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H1 tự nguyện tặng cho anh H phần di sản mình được hưởng. Chấp nhận sự tự nguyện của bà X, bà C tặng cho phần tài sản trên đất của mình cho bà M, bà M1, bà S. Chấp nhận sự tự nguyện của bà M, bà M1, bà S, bà C không yêu cầu bà X phải trả giá trị tài sản trên đất đối với phần đất bà X được giao.
- Về chia hiện vật (có sơ đồ kèm theo):
- - Giao cho bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S được sử dụng: 172m² đất (trong đó đất ở là 80m², đất ao là 44m², đất trồng cây lâu năm là 48,4m²) trị giá 807.172.000đ (Tám trăm linh bảy triệu một trăm bảy mươi hai nghìn đồng), thuộc thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ số 01, địa chỉ thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương, được giới hạn bởi các điểm A4, A1, B2, B1 đến A4. Bà M, bà M1, bà S được sở hữu các tài sản, cây trồng trên phần đất được giao.
- - Giao cho bà Nguyễn Thị X được sử dụng: 131,3m² (trong đó đất ở là 70m², đất trồng cây lâu năm là 61,3m²), trị giá 704.904.000đ ( Bảy trăm linh tư triệu chín trăm linh tư nghìn đồng), thuộc thửa đất số 26b, 63 tờ bản đồ số 01, địa chỉ thôn P, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương, được giới hạn bởi các điểm B1, B2, A2, A3 đến B1. Bà X được sở hữu các tài sản, cây trồng trên phần đất được giao.
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục sử dụng đất và phải chấp hành đầy đủ quy định của Pháp luật trong quá trình sử dụng bất động sản được chia. Trường hợp đường ranh giới đi vào tài sản hoặc cây cối trên đất của ai thì người đó có trách nhiệm chặt bỏ hoặc tháo dỡ.
- Bà Nguyễn Thị X phải trả cho anh Nguyễn Văn H giá trị di sản bằng tiền là 200.878.666₫ (Hai trăm triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng). Bà M, bà M1, bà S phải trả cho anh H giá trị di sản bằng tiền là 51.134.000đ (Năm mươi mốt triệu một trăm ba mươi tư nghìn đồng), chia theo phần mỗi người phải trả 17.044.667đ (Mười bảy triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- - Về án phí: Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị C5. Bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị S, anh Nguyễn Văn H mỗi người phải chịu 12.600.000₫ (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị X phải chịu 22.144.900đ (Hai mươi hai triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm đồng) án phí sơ thẩm.
- - Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Bà M tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá = 7.900.000₫ (Bảy triệu chín trăm nghìn đồng). Xác định bà M đã nộp tạm ứng số tiền trên nên đã thực hiện xong nghĩa vụ
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải chịu lãi với số tiền phải thi hành, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (đã ký) Đoàn Thị Thu Thúy |
Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 47/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M - Nguyễn Văn H
