TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DS-ST
Ngày: 01-04-2025.
Về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Kim Hoàng.
- Bà Võ Thanh Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 337/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Địa chỉ: 2 N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1999 “có mặt”.
(Giấy ủy quyền số 449/GUQ-CNĐN ngày 23/07/2024).
Bị đơn: Bà Lưu Ngọc C, sinh năm 1976 “vắng mặt”.
Nơi cư trú: A N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Hữu Đ trình bày: Ngày 25/10/2022, bà Lưu Ngọc C và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà Lưu Ngọc C, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng, loại thẻ Visa Platinum Cashback số 436438-7658, hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Lưu Ngọc C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 99.651.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ, bà Lưu Ngọc C đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với số tiền là 500.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng tín dụng của Ngân hàng). Kể từ ngày 06/11/2022 cho đến nay, bà Lưu Ngọc C không thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn thiếu.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Lưu Ngọc C vẫn không thiện chí trả nợ. Do bà Lưu Ngọc C vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/03/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Nay, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc bị đơn bà Lưu Ngọc C phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 01/04/2025 tổng cộng là 223.432.121 đồng (trong đó: nợ gốc là 99.651.000 đồng, nợ lãi là 123.781.121 đồng). Ngoài ra, bà Lưu Ngọc C còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 02/04/2025 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Lưu Ngọc C mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai tại tòa. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau đây: Ngày 19/11/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra thông báo thụ lý số 337/TB-TLVA và đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý này cho bà Lưu Ngọc C nhưng sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý bà Lưu Ngọc C vẫn không có ý kiến gì. Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Lưu Ngọc C đến Tòa án để lấy lời khai, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Lưu Ngọc C đều vắng mặt không có lý do. Do đó trong hồ sơ vụ án không có lời trình bày của bị đơn.
Tại phiên tòa,
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Hữu Đ xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc bà Lưu Ngọc C phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 01/04/2025 tổng cộng là 223.432.121 đồng (trong đó: nợ gốc là 99.651.000 đồng, nợ lãi là 123.781.121 đồng). Ngoài ra, bà Lưu Ngọc C còn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi thanh toán xong số nợ.
Bị đơn bà Lưu Ngọc C vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự được tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu của G đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngoài ra, bà Lưu Ngọc C phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh từ ngày 02/04/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả xong toàn bộ số nợ. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp:
Xét, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Lưu Ngọc C thanh toán số tiền còn thiếu của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
1.2. Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Lưu Ngọc C thể hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng bà Lưu Ngọc C có nơi cư trú tại A N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Bà Lưu Ngọc C, sinh năm 1976 có hộ khẩu thường trú tại A N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay công dân Lưu Ngọc C không cư trú tại địa phương, qua trao đổi với gia đình công dân Cúc cung cấp do thiếu nợ nhiều người, hiện tại công dân C bỏ nhà đi đâu không rõ từ tháng 11 năm 2024 đến nay”.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định không biết địa chỉ nào khác của bà Lưu Ngọc C, ngoại trừ địa chỉ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Đồng thời, nguyên đơn xác định lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án nơi cư trú cuối cùng của bà Lưu Ngọc C để giải quyết vụ án.
Như vậy, có cơ sở khẳng định bị đơn cố tình giấu địa chỉ không báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện như quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.3. Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lưu Ngọc C nhưng bà không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa, bị đơn bà Lưu Ngọc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Lưu Ngọc C.
Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định pháp luật.
[2]. Về pháp luật nội dung:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc buộc bà Lưu Ngọc C phải thanh toán số tiền nợ gốc của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) là 99.651.000 đồng.
Xét, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần, mã số doanh nghiệp 0301103908 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp.
Xét, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Lưu Ngọc C đảm bảo về mặt hình thức, nội dung không trái pháp luật, không trái đạo đức nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.
Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Lưu Ngọc C có nội dung ghi nhận: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà Lưu Ngọc C loại thẻ Visa Platinum Cashback số 436438-7658, hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân
Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn bà Lưu Ngọc C nhưng bà không đến trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ. Do đó, bị đơn bà Lưu Ngọc C đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Bà Lưu Ngọc C còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) là 99.651.000 đồng.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc buộc bị đơn bà Lưu Ngọc C phải thanh toán số tiền nợ gốc của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) là 99.651.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc buộc bà Lưu Ngọc C phải thanh toán số tiền nợ lãi của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) là 123.781.121 đồng.
Xét, đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết.
Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 thể hiện lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 28,8%/năm. Căn cứ Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng S1 thì bà Lưu Ngọc C còn nợ số tiền lãi là 123.781.121 đồng.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngoài ra, bà Lưu Ngọc C còn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) kể từ ngày 02/04/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
2.3. Về thời hạn thanh toán:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Bà Lưu Ngọc C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và nguyên đơn cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình tránh né thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được nguyên đơn đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40, Điều 91, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.
- Căn cứ vào Điều 280, Điều 292, Điều 293, Điều 298, Điều 299, Điều 303, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.
- Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011.
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Lưu Ngọc C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ tạm tính đến ngày 01/04/2025 của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) là 223.432.121 đồng (hai trăm hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn một trăm hai mươi mốt đồng), trong đó: nợ gốc là 99.651.000 đồng, nợ lãi là 123.781.121 đồng.
Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 02/04/2025 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà Lưu Ngọc C còn phải có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 200/2022/TTDT10 ngày 25/10/2022 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, phiếu cấp mã QR xem Biểu phí, Điều khoản, Điều kiện phát hành và hướng dẫn sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lưu Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.171.606 đồng (mười một triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm lẻ sáu đồng).
- Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 4.668.000 đồng (bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo biên lai số 0006765 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 47/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH SGTT
