TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2025/DS -ST
Ngày: 17/03/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Lai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thuỵ
- Bà Phạm Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Huy – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2024/TLST- DS ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXX-DS ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST -DS ngày 24/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Ngân hàng N
Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Chức vụ Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu H - Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh T (A - Chi nhánh T). Theo Quyết định số 2965/QĐ- NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N “V/v ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án”.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Hải Y - Chức vụ: Giám đốc Phòng A Chi nhánh T. Quyết định số 298/QĐ-NHNoTrA-TH ngày 05/06/2024 của Giám đốc A Chi nhánh T về ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án đối với khách hàng Trần Quốc V1. (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn:
Luật sư Lê Thị Đ - Văn phòng Luật sư Hoàng Đan . (Có mặt)
Bị đơn: Anh Trần Quốc V1, sinh năm 1982. (Vắng mặt).
HKTT: Số E, ngõ I V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú cuối cùng: Số B, hẻm I V, phường L, quận B, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 12 năm 2024 của nguyên đơn là Ngân hàng N và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn là bà Đinh Thị Hải Y trình bày:
Ngân hàng N nộp Đơn khởi kiện đề ngày 26/8/2024 tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình yêu cầu ông Trần Quốc V1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng A1- Chi nhánh T.
Ngày 04/12/2024 Ngân hàng có đơn sửa đổi, bổ sung Đơn khởi kiện ngày 26/8/2024 với những nội dung như sau:
1. Quá trình cho vay, ký kết Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản:
1.1. Ngày 23/06/2015, ông Trần Quốc V1 và A - Chi nhánh T ký Hợp đồng tín dụng số 1305-LAV-201500437, số tiền vay 200.000.000 đồng với mục đích vay “Mua sắm đồ dùng sinh hoạt”, thời hạn vay: 60 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm vay vốn là: 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 02/07/2024, tổng số tiền nợ gốc, lãi là: 177.343.154 đồng. Trong đó, số tiền nợ gốc là 70.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 39.958.893 đồng, nợ lãi quá hạn: 19. 979.446 đồng.
Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng đã ký kết, ngày 23/6/2015, A - Chi nhánh T đã giải ngân 01 lần cho ông Trần Quốc V1 vay số tiền là 200.000.000 đồng.
Khoản vay nay không có tài sản bảo đảm.
1.2. Ngày 28/3/2017 ông Trần Quốc V1 và A - Chi nhánh T1 Hợp đồng tín dụng số 1305-LAV 201700299, số tiền vay 250.000.000 đồng với mục đích vay “Mua sắm đồ dùng sinh hoạt”, thời hạn vay 60 tháng lãi suất cho vay tại thời điểm vay vốn là 10,0%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 02/07/2024, tổng số tiền nợ gốc lãi là 364.695.833 đồng. Trong đó, số tiền nợ gốc là 175.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 101.811.111 đồng, nợ lãi quá hạn: 50.905.556 đồng
Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng đã ký kết, ngày 28/3/2017, A – Chi nhánh T đã giải ngân 01 lần cho ông Trần Quốc V1 vay số tiền là 250.000.000 đồng.
Khoản vay nay không có tài sản bảo đảm
1.3. Ngày 01/8/2018, ông Trần Quốc V1 và A - Chi nhánh T1 Hợp đồng thấu chi, số tiền vay: 100.000.000 đồng với mục đích vay “Vay tiêu dùng”, thời hạn vay: 12 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm vay vốn là 8%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 02/07/2024, tổng số tiền nợ gốc lãi là 74.347.940 đồng. Trong đó, số tiền nợ gốc là 39.819.323 đồng, nợ lãi: 34.528.617 đồng.
Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng đã ký kết, ngày 01/8/2018, A – Chi nhánh T đã giải ngân 01 lần cho ông Trần Quốc V1 vay số tiền là 100.000.000 đồng
Khoản vay nay không có tài sản bảo đảm.
1.4. Ngày 24/12/2018, ông Trần Quốc V1 và A - Chi nhánh T1 Hợp đồng tín dụng, số tiền vay: 150.000.000 đồng với mục đích vay “Mua sắm đồ dùng sinh hoạt”, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm vay vốn là: 8,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 02/07/2024, tổng số tiền nợ gốc lãi là: 263.300.572 đồng. Trong đó, số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 76.581.250 đồng, nợ lãi quá hạn" 19.039.689 đồng.
Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng đã ký kết, ngày 24/12/2018, A – Chi nhánh T đã giải ngân 01 lần cho ông Trần Quốc V1 vay số tiền là 150.000.000 đồng.
Khoản vay nay không có tài sản bảo đảm.
2. Lý do khởi kiện: Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng nêu trên ông Trần Quốc V1 đã vi phạm các hợp đồng tín dụng đã ký kết, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho A Chi nhánh T theo thoả thuận. Sau khi các khoản vay quá hạn thì A Chi nhánh T đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Trần Quốc V1 không thực hiện.
3. Yêu cầu Tòa án giải quyết:
Ngân hàng đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xem xét và giải quyết những vấn đề sau:
Buộc ông Trần Quốc V1 trả nợ cho A - Chi nhánh Tràng An toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi tại hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 17/3/2025, tổng số nợ gốc, nợ lãi phải trả ngân hàng là: 810.750.873 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 434. 819.323 đồng, nợ lãi trong hạn là: 286.006.859 đồng, nợ lãi quá hạn là 89.924.691đồng.
Buộc ông Trần Quốc V1 phải tiếp tục trả lãi tính theo lãi suất quá hạn quy định trong các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 18/3/2025 cho đến khi trả hết nợ.
Bị đơn anh Trần Quốc V1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn sau khi phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc ông Trần Quốc V1 trả nợ cho A - Chi nhánh Tràng An toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi tại hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 17/3/2025, tổng số nợ gốc, nợ lãi phải trả Nguyên đơn là: 810.750.873 đồng, trong đó nợ gốc là 434.819.323 đồng, nợ lãi trong hạn là: 286.006.859 đồng, nợ lãi quá hạn là 89.924.691đồng. Buộc ông Trần Quốc V1 phải tiếp tục trả lãi tính theo lãi suất quá hạn quy định trong các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 18/3/2025 cho đến khi trả hết nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thấu chi được các bên tự nguyện ký kết, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật. Ông V1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi là có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Ông V1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- Về việc vắng mặt đương sự:
Ngân hàng N – Chi nhánh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Anh Trần Quốc V1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 ; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy Ngân hàng N – Chi nhánh T (sau đây gọi là Ngân hàng) và anh Trần Quốc V1 ký Hợp đồng tín dụng số 1305-LAV-201500437 ngày 23/06/2015; Hợp đồng tín dụng số 1305-LAV 201700299 ngày 28/3/2017; Hợp đồng thấu chi ngày 01/8/2018; Hợp đồng tín dụng ngày 24/12/2018.
Ngân hàng đã giải ngân cho anh V1 700.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng anh V1 đã trả được số nợ gốc, nay còn nợ gốc: 434.819.323 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh V1 phải trả số nợ gốc 434.819.323 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Xét thấy, anh V1 không trả nợ cho Ngân hàng theo đúng thời hạn ghi trong các hợp đồng tín dụng là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên, vi phạm Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng 2024. Do đó, Ngân hàng yêu cầu anhViệt phải trả toàn bộ số nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn là có cơ sở chấp nhận.
Ngân hàng đưa ra bảng kê cách tính lãi và Hội đồng xét xử đã kiểm tra, xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Do đó, anh V1 phải trả Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 17/3/2025 là: 810.750.873 đồng, trong đó nợ gốc là 434.819.323 đồng, nợ lãi trong hạn là: 286.006.859 đồng, nợ lãi quá hạn là 89.924.691đồng.
Anh V1 phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2025 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát và Luật sư tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nên được chấp nhận.
- Về án phí: Anh Trần Quốc V1 phải chịu án phí sơ thẩm là: 36.322.526đồng.
Ngân hàng không phải chịu án phí, được nhận lại 50.800.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0030618 ngày 07/10/2024 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với anh Trần Quốc V1.
- Buộc anh Trần Quốc V1 phải trả nợ cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 17/3/2025 là 810.750.873 đồng. Trong đó:
Nợ gốc: 434.819.323 đồng, nợ lãi trong hạn là: 286.006.859 đồng, nợ lãi quá hạn là 89.924.691 đồng.
Kể từ ngày 18/3/2025 cho đến khi thi hành án xong, anh Trần Quốc V1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về án phí: Anh Trần Quốc V1 phải chịu án phí sơ thẩm là: 36.322.526 đồng.
Ngân hàng N không phải chịu án phí, được nhận lại 50.800.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0030618 ngày 07/10/2024 đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Lai |
Bản án số 47/2025/DS -ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 47/2025/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
