Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 47/2025/DS-ST

Ngày: 05/12/2025

V/v Tranh chấp di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Xuân Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tòng và ông Nguyễn Văn Thư.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Hoàng Phương Trang - Thư ký

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 25/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-DS ngày 08/4/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2022/QĐST-HPT ngày 04/5/2022, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 05/2022/QĐST-DS ngày 02/6/2022, Thông báo thời gian xét xử số: 10/TB ngày 06/12/2022, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 07/2022/QĐST-DS ngày 29/12/2022, Thông báo thời gian xét xử số: 06/TB ngày 11/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2023/QĐST-HPT ngày 06/9/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 10/2023/QĐST-DS ngày 25/10/2023 của TAND thị xã Đông Hòa; Thông báo thời gian xét xử vụ án số: 07/TB-TA ngày 20/8/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QĐST-DS ngày 11/9/20250, Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2025/QĐST-DS ngày 20/9/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2025/QĐST-DS ngày 16/10/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 22/2025/QĐST-DS ngày 05/11/2025 của TAND khu vực 12 – Đắk Lắk giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố P. phường H, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền:

+ Ông Bùi Trọng T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.

+ Bà Trần Thị Ngọc Á, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn P, xã Ô, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Đình C1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Đắk Lắk;
  2. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
  3. Ông Phan Đình T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.
  4. Ông Phan Đình T2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Đình T1, ông Phan Đình T2: Ông Phan Đình C1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt.

  1. Ông Phan Q, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
  2. Bà Phan Thị P, sinh năm 1952; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk;
  3. Bà Phan Thị M, sinh năm 1958; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk;
  4. Bà Phan Thị Hải S, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk;
  5. Ông Phan Văn M1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk;

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S, ông Phan Văn M1: Ông Phan Q, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.

  1. Ông Phan C2 (chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan C2:

+ Ông Phan T3, sinh năm: 1971; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Ông Phan Văn H1, sinh năm: 1980; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bà Phan Thị T4, sinh năm: 1984; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bà Phan Thị N, sinh năm: 1987; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bà Phan Thị N1, sinh năm: 1990; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk;

+ Bà Phan Thị C3, sinh năm: 1974; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bà Phan Thị G, sinh năm: 1978; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Khu phố P, phường H, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần N2, sinh năm 1947; Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Ông Đinh M2, sinh năm 1947; Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk; Đã chết.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 27/3/2019 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị C, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn của nguyên đơn thống nhất trình bày được tóm tắt như sau:

Cha mẹ của bà Phan Thị C là ông Phan C4 (chết năm 2016), bà Đinh Thị M3 (chết năm 2017) có 09 người con: ông Phan C2 (chết), bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, ông Phan Đ (chết khi còn nhỏ), ông Phan Q, ông Phan Đình C1, ông Phan Văn M1, bà Phan Thị Sơn H2 và bà Phan Thị C. Vợ chồng ông C4 chết không để lại di chúc.

Năm 1977, ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang diện tích đất tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk) – theo bản đồ đo đạc năm 2016, thửa đất này có diện tích 1147,7m² thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29. Sau khi khai hoang, vợ chồng ông C4 quản lý, sử dụng thửa đất này để trồng trọt đến khi chết. Tuy nhiên, ông Phan Đình C1 lại tự ý đăng ký kê khai đứng tên chủ sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên.

Nguyên đơn bà Phan Thị C đề nghị Tòa án giải quyết: Chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 1147,7m² thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29 (đo đạc năm 2016) tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk). Ngoài ra không yêu cầu giải quyết nội dung nào khác.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Phan Đình C1 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Đình T1, ông Phan Đình T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị H thống nhất trình bày được tóm tắt như sau:

Diện tích đất bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế trong vụ án dân sự thụ lý số: 25/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” có nguồn gốc: trước năm 1975, ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang phần diện tích đất này nhưng sau đó gia đình ông Phan Đình C1 đã được nhà nước giao phần đất này để sản xuất lâm nghiệp nên thửa đất tranh chấp thuộc phần diện tích đất lâm nghiệp do gia đình ông C1 được nhà nước cấp cũng như khai hoang thêm. Cụ thể: năm 1989, thực hiện chủ trương trồng cây phủ kín đồi trọc do nhà nước phát động, gia đình ông Phan Đình C1 xin nhận đất làm vườn rừng, sản xuất nông lâm kết hợp nên được Hợp tác xã S, Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là “UBND”) xã H và UBND huyện T cấp 2160m² đất tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk) theo Sổ Lâm bạ số 180/KL ngày 15/11/1989 và Quyết định số 50/QĐ-UB ngày 16/11/1989 của UBND huyện T; có giới cận: phía Bắc giáp phi lao, phía tây giáp vườn rừng ông M1, phía đông giáp rừng ông N2, phía nam giáp nhà ông C1 đối với 04 (bốn) nhân khẩu: ông Phan Đình C1, bà Ngô Thị H, ông Phan Đình T1, ông Phan Đình T2. Sau đó, gia đình ông C1 có khai hoang thêm diện tích đất bên cạnh thửa đất được cấp. Từ đó đến năm 2019, gia đình ông quản lý, sử dụng đất liên tục, ổn định nhưng không phát sinh tranh chấp với bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào. Vì vậy, tổng diện tích đất mà hộ ông C1 thực tế quản lý, sử dụng tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk) có sự chênh lệch (lớn hơn) diện tích đất lâm nghiệp được cấp.

Do đó, năm 2019, bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích 1147,7m² đất thuộc số 25, tờ bản đồ số 29 (đo đạc năm 2016) tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk) là không có căn cứ.

Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Q đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S, ông Phan Văn M1 và bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S, ông Phan Văn M1 trình bày được tóm tắt như sau:

Cha mẹ là có 09 người con: ông Phan C2 (chết), bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, ông Phan Đ (chết), ông Phan Q, ông Phan Đình C1, ông Phan Văn M1, bà Phan Thị Sơn H2 và bà Phan Thị C.

Năm 1977, ông Phan C4, bà Đinh Thị M3 có khai hoang 01 (một) thửa đất tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk) để tăng gia sản xuất với diện tích đất 1147,7m² – theo bản đồ đo đạc năm 2016 thì diện tích này thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29. Ông Phan Đình C1 cho rằng đây là quyền sử dụng đất thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông C1 là không có cơ sở.

Vì hoàn cảnh khó khăn nên khi cha mẹ chết không để lại di chúc, các anh chị em chưa thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế theo ước nguyện của cha mẹ lúc còn sống cũng như theo quy định pháp luật. Do đó, bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần diện tích đất này thì các ông, bà đều thống nhất và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Kỷ phần thừa kế mà ông Phan Q, ông Phan Văn M1, bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S được nhận từ di sản thừa kế của ông Phan C4, bà Đinh Thị M3 theo quy định pháp luật, các ông, bà tự nguyện tặng cho bà Phan Thị C.

Trong quá trình tố tụng, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan C2: ông Phan T3, ông Phan Văn H1, bà Phan Thị T4, bà Phan Thị N, bà Phan Thị N1, bà Phan Thị C3, bà Phan Thị G thống nhất trình bày dược tóm tắt như sau:

Ông Phan C4 (chết năm 2016), bà Đinh Thị M3 (chết năm 2017) ngoài bà Phan Thị C và ông Phan Đình C1 thì ông, bà còn có 07 (bảy) người con: ông Phan C2 (chết năm 1995), bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, ông Phan Đ (chết), ông Phan Q, ông Phan Văn M1, bà Phan Thị Sơn H2.

Ông Phan C2 là chồng bà Nguyễn Thị D và là cha của ông Phan T3, ông Phan Văn H3, bà Phan Thị T4, bà Phan Thị N, bà Phan Thị N1, bà Phan Thị C3, bà Phan Thị G.

Ông Phan Đình C1 trình bày diện tích 1147,7m² đất bà Phan Thị C khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk) do gia đình ông C1 khai hoang là không đúng thực tế vì phần diện tích đất này do ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang và canh tác đến khi chết. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Trường hợp ông Phan T3, ông Phan Văn H3, bà Phan Thị T4, bà Phan Thị N, bà Phan Thị N1, bà Phan Thị C3, bà Phan Thị G được thừa kế thế vị ông Phan C2 và nhận kỷ phần thừa kế từ di sản thừa kế của ông Phan C4, bà Đinh Thị M3 theo quy định pháp luật, các ông, bà tự nguyện tặng cho bà Phan Thị C.

Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) trình bày:

Vị trí đất tranh chấp theo hồ sơ địa chính năm 1997 tại Sổ Mục kê đất quyển số 01, trang 40, tờ bản đồ số 68-A thuộc thửa đất số 96, diện tích 1195 m², loại đất: Rtp (Đất có rừng phòng hộ), Tên chủ sử dụng đất: “UBND xã H” và theo hồ sơ địa chính năm 2015 tại Sổ Mục kê đất đai quyền số 002, trang 43, tờ bản đồ số 29 thuộc thửa đất số 25, diện tích 1147,7 m², loại đất: BHK (Đất bằng hàng năm khác), T5 chủ sử dụng đất: “Phan Đình C1”.

Trong quá trình tố tụng, người làm chứng ông Trần N2 trình bày:

Ông Trần N2 là người trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất giáp thửa đất tranh chấp. Ông Trần N2 biết thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang năm 1977 - sau giải phóng để trồng hoa màu. Thửa đất có giới cận: phía đông giáp đất ông L; phía Tây giáp đất ông Phan C2 (bà Nguyễn Thị D); phía Nam giáp đường đi; phía Bắc giáp đất vườn ông Phan Đình C1. Ông Trần N2 chỉ biết nguồn gốc đất còn quá trình quản lý, sử dụng đất thì ông không biết.

Đối với diện tích đất mà ông Phan Đình C1 được cấp theo Sổ Lâm bạ số 180/KL ngày 15/11/1989 là ông C1 trồng bạch đàn và có giới cận: phía Đông giáp đất rừng của ông Trần N2.

Trong quá trình tố tụng, người làm chứng ông Đinh M2 trình bày:

Ông Đinh M2 là cậu họ của bà Phan Thị C và ông Phan Đình C1. Ông Đinh M2 biết thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang năm 1977 sau giải phóng để trồng hoa màu. Thửa đất có giới cận: phía đông giáp đất ông L; phía Bắc giáp đất vườn ông Phan Đình C1; phía Nam giáp đường đi; phía Tây giáp đất ông Phan C2 (bà Nguyễn Thị D). Ông Trần N2 chỉ biết nguồn gốc đất còn quá trình quản lý, sử dụng đất thì ông không biết.

Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk) đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên nội dung trình bày và yêu cầu: (i) Yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất đo đạc thực tế là 1173m², thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29 (đo đạc năm 2016) tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk); (ii) Yêu cầu nhận bằng hiện vật di sản thừa kế là thửa B, diện tích 587m² được nối bởi các điểm 11, 14, 7, 8, 9, 10 thể hiện tại Trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày (đã bao gồm các kỷ phần thừa kế được các đồng thừa kế khác tặng cho), thửa A, diện tích 586m² được nối bởi các điểm 11, 12, 13, 14, 14' 9 (phần đất có 01 chái tạm do ông C1 xây dựng để thuận tiện cho việc sử dụng đất) giao cho ông Phan Đình C1 tiếp tục quản lý, sử dụng vì ông C1 có công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của ông C4, bà M3 từ khi ông, bà mất đến nay; (iii) Tự nguyện nhận cây trồng trên thửa đất được chia di sản thừa kế cho bà Phan Thị C và thanh toán toàn bộ giá trị cây trồng trên thửa đất này cho ông Phan Đình C1; Buộc ông Phan Đình C1 phải tự tháo dỡ, di dời trụ bê tông và hàng rào dây thép gai ra khỏi thửa đất được chia di sản thừa kế cho bà Phan Thị C. Ngoàn ra, nguyên đơn tự nguyện chịu ½ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản cũng như án phí theo quy định pháp luật đối với việc chia di sản thừa kế.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Q đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S, ông Phan Văn M1 và bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S, ông Phan Văn M1 trình bày: Kỷ phần thừa kế mà ông Phan Q, ông Phan Văn M1, bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, bà Phan Thị Hải S được nhận từ di sản thừa kế của ông Phan C4, bà Đinh Thị M3 theo quy định pháp luật, các ông, bà tự nguyện tặng cho bà Phan Thị C.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật (Ngoại trừ, thời hạn hoãn phiên tòa).

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chia cho ông Phan Đình C1 thửa A, diện tích 586m² và chia cho bà Phan Thị C thửa B, diện tích 587m² theo Trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày. Bà Phan Thị C có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phan Đình C1 toàn bộ giá trị cây trồng trên thửa đất được chia di sản thừa kế cho bà Phan Thị C. Ông Phan Đình C1 có nghĩa vụ tự tháo dỡ, di dời trụ bê tông và hàng rào dây thép gai ra khỏi thửa đất được chia di sản thừa kế cho bà Phan Thị C. Đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn và các đồng thừa kế cũng như người thừa kế thế vị của ông Phan C2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do, đã được triệu tập hợp lệ; vụ án đã mở phiên tòa nhiều lần. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Căn cứ Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/06/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền trong lĩnh vực đất đai, Hội đồng xét xử xác định UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của UBND phường H, tỉnh Phú Yên.

Căn cứ Điều 677 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 652 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk không tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan C2.

[2] Về thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản là bất động sản tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (nay là khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk).

Xét về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 623 và điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015: “1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản..., kể từ thời điểm mở thừa kể”. Ông Phan C4 chết năm 2016 và bà Đinh Thị M3 chết năm 2017 đến ngày 27/3/2019, bà Phan Thị C có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk), là trong thời hiệu khởi kiện.

Ngày 28/3/2019, Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk) thụ lý vụ án để giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Theo hồ sơ địa chính quản lý đất đai từ trước đến nay được lưu giữ tại UBND phường H, tỉnh Phú Yên (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) thể hiện: Theo Bản đồ đo đạc năm 1995, Sổ mục kê năm 1996, thửa đất tranh chấp là thửa đất số 96, tờ bản đồ số 68A, diện tích 1195m², loại đất: RTP (đất rừng phòng hộ), chủ sử dụng đất: UBND xã H. Theo Bản đồ đo đạc năm 2010 (được duyệt năm 2015), đo đạc chỉnh lý thành thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29, diện tích 1147,7m², loại đất: BHK (đất trồng cây hàng năm khác), chủ sử dụng đất: ông Phan Đình C1.

Qua kiểm tra, đối chiếu vị trí thửa đất tranh chấp với Sổ Lâm bạ số 180/KL ngày 15/11/1989, UBND phường H, tỉnh Phú Yên (nay là UBND phường H, tỉnh Đắk Lắk) xác định vị trí thửa đất tranh chấp không trùng với vị trí nhà nước cấp đất theo sổ lâm bạ nêu trên cho ông Phan Đình C1. Thửa đất tranh chấp có giới cận: phía đông giáp đất ông Nguyễn Văn L, phía Bắc giáp đất ông Phan Đình C1, phía Nam giáp đường đi, phía Tây giáp đất bà Nguyễn Thị D; trong khi đó, thửa đất được nhà nước cấp cho ông Phan Đình C1 ghi nhận tại Sổ Lâm bạ số 180/KL ngày 15/11/1989 có giới cận: phía Bắc giáp đất phi lao của Hợp tác xã, phía tây giáp vườn rừng ông M1, phía đông giáp đất ông N2, phía nam giáp nhà ông C5.

Quá trình xác minh (tại bút lục số 119 và 120), ông Nguyễn N3 – chủ nhiệm Hợp tác xã H từ năm 1979 đến ngày 01/6/1998 và ông Nguyễn Văn T6 – đại diện Đội sản xuất trưởng kế hoạch Hợp tác xã cũng xác định diện tích đất vườn rừng mà hộ ông Phan Đình C1 được cấp theo Sổ Lâm bạ số 180/KL ngày 15/11/1989 và Quyết định số 50/QĐ-UB ngày 16/11/1989 của UBND huyện T không phải là thửa đất tranh chấp, không giáp đường đi, có giới cận: phía Bắc giáp đất phi lao của Hợp tác xã, phía tây giáp vườn rừng ông M1, phía đông giáp đất ông N2, phía nam giáp nhà ông C5. Thửa đất tranh chấp do ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang sau giải phóng (tức sau năm 1975). Điều này hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng.

Như vậy, thửa đất tranh chấp không được nhà nước cấp đất theo Sổ Lâm bạ số 180/KL ngày 15/11/1989 và Quyết định số 50/QĐ-UB ngày 16/11/1989 của UBND huyện T cho ông Phan Đình C1 và trước năm 2015, ông Phan Đình C1 cũng không thực hiện thủ tục đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất.

Ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 khai hoang, sử dụng thửa đất tranh chấp trước thời điểm nhà nước thực hiện đo đạc và lập Sổ mục kê vào năm 1995, 1996 (khoảng năm 1975) nhưng cơ quan quản lý đất đai tại địa phương lại tạo lập hồ sơ xác định chủ sử dụng đất: UBND xã H và đến năm 2015, lại cập nhật, thống kê quy chủ sử dụng đất thành ông Phan Đình C1. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất là ông Phan C4, bà Đinh Thị M3 và người thừa kế của ông C4, bà M3.

[3.2] Về yêu cầu chia thừa kế:

Với những căn cứ viện dẫn nêu tại mục [3.1] đủ cơ sở xác định di sản thừa kế của ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 là thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29, diện tích 1147,7m², loại đất: BHK (đất trồng cây hàng năm khác), theo T7 đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày thì diện tích là 1173m², được nối bởi các điểm 10, 11, 12, 13, 14, 14', 7, 8, 9. Ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 chết không để lại di chúc nên nguyên đơn bà Phan Thị Có khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật là có căn cứ theo quy định tại Điều 674, điểm a khoản 1 Điều 675 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 676 của Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 651 của Bộ luật dân sự năm 2015, xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 gồm: ông Phan C2, bà Phan Thị P, bà Phan Thị M, ông Phan Đ, ông Phan Q, ông Phan Đình C1, ông Phan Văn M1, bà Phan Thị Sơn H2 và bà Phan Thị C. Trong đó, ông Phan C4 chết năm 1995 – tức chết trước ông C4, bà M3 nên các con của ông Phan C4 gồm: ông Phan T3, ông Phan Văn H1, bà Phan Thị T4, bà Phan Thị N, bà Phan Thị N1, bà Phan Thị C3, bà Phan Thị G là người thừa kế thế vị ông Phan C2; ông Phan Đ không có vợ, con. Ngoài những người thừa kế nêu trên, ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 không có cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác.

Di sản thừa kế của ông C4, bà M3 được chia thành 08 (tám) kỷ phần thừa kế, mỗi kỷ phần tương ứng 146,625m², có giá trị gần bằng 51.319.000 đồng (Năm mươi mốt triệu ba trăm mười chín nghìn đồng - làm tròn số) - theo Biên bản định giá tài sản ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản do Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa thành lập, giá đất BHK theo giá thị trường là 350.000 đồng/m². Những người thừa kế của ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 cũng như những người thừa kế thế vị của ông Phan C2 đều tự nguyện tặng cho kỷ phần thừa kế của mình cho bà Phan Thị C. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà Phan Thị C chỉ yêu cầu nhận thực tế ½ diện tích đất thuộc thửa đất tranh chấp là di sản thừa kế của ông C4, bà M3, ½ diện tích đất còn lại giao cho ông Phan Đình C1 tiếp tục quản lý, sử dụng vì ông C1 có công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế của ông C4, bà M3 từ khi ông, bà mất đến nay nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đồng thời, căn cứ Quyết định số 41/2024/QĐ-UBND ngày 23/10/2024 của UBND tỉnh Đ quy định hạn mức một số loại đất; giấy tờ khác về quyền sử dụng đất có trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa đất, hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đối với đất nông nghiệp, cụ thể là loại đất BHK (đất trồng cây hàng năm khác) thì thửa đất mới được hình thành sau khi tách phải có diện tích tối thiểu 500m².

Theo đó, chia cho ông Phan Đình C1 thửa A, diện tích 586m² được nối bởi các điểm 11, 12, 13, 14, 14' 9 (phần đất có 01 chái tạm do ông C1 xây dựng để thuận tiện cho việc sử dụng đất) và chia cho bà Phan Thị C thửa B, diện tích 587m² được nối bởi các điểm 11, 14, 7, 8, 9, 10 thể hiện tại Trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày.

Ông Phan Đình C1 và bà Phan Thị C được quyền liên hệ với cơ quan thẩm quyền để thực hiện trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với diện tích đất được chia di sản thừa kế.

[3.3] Về cây trồng và tài sản trên đất tranh chấp:

Tại phiên tòa, bà Phan Thị C tự nguyện nhận toàn bộ cây trồng trên thửa đất được chia di sản thừa kế cho bà Phan Thị C và thanh toán cho ông Phan Đình C1 giá trị cây trồng trên đất theo Biên bản định giá tài sản ngày 03/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản do Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk thành lập, gồm: 08 (tám) cây xoài khoảng 04 năm tuổi, trị giá: 6.344.000 đồng; 04 (bốn) cây mãng cầu khoảng 02 năm tuổi, trị giá: 828.000 đồng; 07 (bảy) cây mít khoảng 04 năm tuổi, trị giá: 5.754.000 đồng; 07 (bảy) cây dừa, trị giá: 2.695.000 đồng; 22 (hai mươi hai) cây mai cao trên 50cm nhưng thấp hơn 01m, trị giá: 1.716.000 đồng; tổng giá trị các cây trồng trên đất là 17.337.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ngoài ra, bà Phan Thị C không đồng ý thanh toán giá trị trụ bê tông và hàng rào dây thép gai trên diện tích đất được chia cho bà C nên ông Phan Đình C1 phải tháo dỡ, di dời đi nơi khác.

[4] Về án phí: Ông Phan Đình C1 và bà Phan Thị C mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản thừa kế được hưởng cụ thể như sau: Theo Biên bản định giá tài sản ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản do Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa thành lập, thửa đất có diện tích 1173m², loại đất BHK (đất trồng cây hàng năm khác) là di sản thừa kế, có giá trị 410.550.000 đồng (Bốn trăm mười triệu năm trăm năm chục nghìn đồng). Ông Phan Đình C1 và bà Phan Thị C mỗi người nhận ½ diện tích đất nên phải chịu án phí với số tiền 10.264.000 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng).

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ hiện trạng và chi phí định giá tài sản:

Ông Phan Đình C1 và bà Phan Thị C mỗi người phải chịu ½ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng và định giá tài sản.

Bà Phan Thị C đã nộp đủ tạm ứng tổng số tiền 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, ông Phan Đình C1 phải hoàn trả cho bà Phan Thị C số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 674, điểm a khoản 1 Điều 675, Điều 676 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 623, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, Điều 651, khoản 2 Điều 660, điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/06/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền trong lĩnh vực đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị C: Chia di sản thừa kế của ông Phan C4 và bà Đinh Thị M3 là quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 1173m² thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ số 29 (theo bản đồ đo đạc năm 2015) tọa lạc tại khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk.

    Chia cho ông Phan Đình C1 thửa A, diện tích 586m², tọa lạc tại khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk được nối bởi các điểm 11, 12, 13, 14, 14' 9 theo Trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày (đính kèm bản án).

    Chia cho bà Phan Thị C thửa B, diện tích 587m², tọa lạc tại khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk được nối bởi các điểm 11, 14, 7, 8, 9, 10 theo Trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày (đính kèm bản án).

  2. Về cây trồng trên đất và tài sản trên đất tranh chấp: Bà Phan Thị C được nhận toàn bộ cây trồng trên thửa B, diện tích 587m², tọa lạc tại khu phố Đ, phường H, tỉnh Đắk Lắk được nối bởi các điểm 11, 14, 7, 8, 9, 10 theo Trích đo chỉnh lý hiện trạng địa chính khu đất tỉ lệ 1:1000 do Công ty TNHH T8 thực hiện ngày 06/12/2022, Thẩm phán Nguyễn Thị H4 ký xác nhận cùng ngày (đính kèm bản án) gồm: 08 (tám) cây xoài khoảng 04 năm tuổi, trị giá: 6.344.000 đồng; 04 (bốn) cây mãng cầu khoảng 02 năm tuổi, trị giá: 828.000 đồng; 07 (bảy) cây mít khoảng 04 năm tuổi, trị giá: 5.754.000 đồng; 07 (bảy) cây dừa, trị giá: 2.695.000 đồng; 22 (hai mươi hai) cây mai cao trên 50cm nhưng thấp hơn 01m, trị giá: 1.716.000 đồng; gồm: 08 (tám) cây xoài khoảng 04 năm tuổi, trị giá: 6.344.000 đồng; 04 (bốn) cây mãng cầu khoảng 02 năm tuổi, trị giá: 828.000 đồng; 07 (bảy) cây mít khoảng 04 năm tuổi, trị giá: 5.754.000 đồng; 07 (bảy) cây dừa, trị giá: 2.695.000 đồng; 22 (hai mươi hai) cây mai cao trên 50cm nhưng thấp hơn 01m, trị giá: 1.716.000 đồng và có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phan Đình C1 toàn bộ giá trị cây trồng trên đất là 17.337.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

    Ông Phan Đình C1 có nghĩa vụ tự tháo dỡ, di dời trụ bê tông và hàng rào dây thép gai ra khỏi thửa đất được chia di sản thừa kế cho bà Phan Thị C.

    Ông Phan Đình C1 và bà Phan Thị C có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện trình tự, thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với diện tích đất được chia di sản thừa kế.

Về án phí:

Nguyên đơn bà Phan Thị C phải chịu số tiền 10.264.000 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản thừa kế được hưởng; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00013800 ngày 28/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự Đông Hòa, tỉnh Phú Yên (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Đắk Lắk) nên phải nộp bổ sung số tiền 9.964.000 đồng (Chín triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

Bị đơn Phan Đình C1 phải số tiền 10.264.000 đồng (Mười triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản thừa kế được hưởng.

Về chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ hiện trạng và chi phí định giá tài sản: Ông Phan Đình C1 và bà Phan Thị C mỗi người phải chịu ½ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ hiện trạng và định giá tài sản. Bà Phan Thị C đã nộp đủ tạm ứng tổng số tiền 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, ông Phan Đình C1 phải hoàn trả cho bà Phan Thị C số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk (1);
  • - VKSND khu vực 12 - Đắk Lắk (2);
  • - Phòng THADS khu vực 12 – Đắk Lắk (1)
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk (1);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐẮK LẮK về tranh chấp di sản thừa kế

  • Số bản án: 47/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp di sản thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger