Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HSST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thành Công – Giáo viên, phó trưởng phòng giáo dục và đào tạo huyện Cần Giuộc
  • Ông Trần Văn Đoàn – Giáo viên hưu trí.

– Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST - HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐHST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Anh H, sinh ngày: 24/02/2007.

Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Kim L (đã chết) và bà Trần Thị B; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Họ và tên: Nguyễn Hửu T, sinh ngày: 27/3/2007.

Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hửu T1 (đã chết) và bà Lâm Thị Thanh H1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người đại điện theo pháp luật cho bị cáo Trương A H có bà Trần Thị B, sinh năm: 1977 – Là mẹ (có mặt).

Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người bào chữa cho bị cáo Trương A H có ông Nguyễn Phát T2 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T7 – Sở Tư pháp tỉnh Long AT7 (có mặt).

Người giám hộ cho bị cáo Nguyễn Hửu T có bà Trần Thị Ú, sinh năm: 1947 – Là bà nội (vắng mặt) – Theo Quyết định công nhận giám hộ số 1069/QĐ-UBND, ngày 14/12/2023 của ủy ban nhân dân xã P, huyện Cần Giuộc.

Cư trú: ấp Long Khánh, xã Phước Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hửu T có ông Nguyễn Văn K – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước - Sở Tư pháp tỉnh Long AT7 (vắng mặt).

Bị hại: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1968 (có mặt).

Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Lê Nhật H2, sinh ngày 16/4/2010 (có mặt).
  2. Người đại điện theo pháp luật cho Lê Nhật H2 có ông Lê Phước T3, sinh năm: 1986 – Là cha (có mặt).

    Cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/12/2010 (vắng mặt).
  4. Người đại điện theo pháp luật cho Nguyễn Hải Đ có bà Đặng Thị Bạch T4, sinh năm: 1986 – Là mẹ (vắng mặt).

    Cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  5. Tào Thị N1, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
  6. Cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ ngày 29/11/2023 tại nhà của Trương Anh H (sinh ngày 24/02/2007), ngụ ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An, Nguyễn Hửu T (sinh ngày 27/3/2007), Nguyễn Hải Đ (sinh ngày 27/12/2010), Lê Nhật H2 (sinh ngày 16/4/2010), theo gợi ý của H, cả nhóm cùng thống nhất với nhau đi trộm tài sản để lấy tiền tiêu xài. Do H có việc nên ở nhà chờ cả nhóm mang tài sản về để bán. Nên T, Đ, H2 trực tiếp đi trộm. Lúc này, T nói có biết nhà bà Nguyễn Thị N ở ấp L, xã P thường xuyên vắng nhà nên chỉ đường cho cả nhóm đến trộm. Để chuẩn bị cho việc trộm tài sản, T về nhà lấy 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, còn H2 điều khiển xe mô tô Honda màu xanh, loại C50, BS: 59LA-033.83 chở T và Đ đến nhà bà N. Khi đến nơi, T, H2, xuống phía sau nhà, dùng mỏ lết bẻ gảy 2 thanh sắt chắn cửa sổ nhà bếp rồi chui vào trong tìm tài sản còn Đ đứng bên ngoài cảnh giới. Sau khi tìm kiếm, T, H2 tìm thấy 01 (một) chiếc lắc khoen lật bằng vàng 18k, trọng lượng 7 chỉ và số tiền 3.000.000 đồng (06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) đựng trong hộp giấy cứng màu hồng nên cất giấu rồi tẩu thoát. Sau khi ra ngoài, H2 chia cho Đ 500.000 đồng, H2 lấy 500.000 đồng, còn lại đưa cho T giữ 2.000.000 đồng. Khi về đến nhà H, T đưa cho cả nhóm xem chiếc lắc tay bằng vàng rồi T cất giữ. Sáng ngày 30/11/2023, T và H2 mang chiếc lắc tay đến tiệm V ở ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An bán được 18.000.000 đồng rồi đem về nhà H chia tiền. Tại nhà H, T thừa nhận còn trộm được 3.000.000 đồng tiền mặt, nên tổng cộng chia cho H và Đ mỗi người 4.500.000 đồng, chia cho H2 và T mỗi người 6.000.000 đồng. Số tiền này, T, H2, H, Đ đã tiêu xài cá nhân hết. Phát hiện bị mất trộm, ngày 05/12/2023 bà N đến Công an xã P trình báo. Qua truy xét, Cơ quan công an đã mời H2, T, H, Đ về làm việc. Tại Cơ quan công an, H, T, H2, Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 78/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện C, xác định: 01 (một) chiếc lắc loại khoen lật bằng vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ có giá trị là 27.090.000 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm chín mươi ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKSCG ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố hai bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65; các Điều 90; 91; 98 và 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trương Anh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Điều 65; các Điều 90; 91; 98 và 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Hửu T từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, dài 25cm.

Đối với 02 (hai) cây sắt hình khối, màu xám, dài 60cm Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị N. Đối với 01 (một) xe mô tô màu xanh, hiệu Honda, loại C50, BS: 59LA-033.83 Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả lại cho bà Tào Thị N1 – mẹ kế của Lê Nhật H2, là phù hợp.

Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Về dân sự: buộc bị cáo Trương Anh H cùng bà Trần Thị B, bị cáo Nguyễn Hửu T cùng bà Trần Thị Ú và ông Lê Phước T3, bà Đặng Thị Bạch T4 cùng liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị N số tiền 22.590.000 đồng.

Ông Nguyễn Phát T2 bào chữa cho bị cáo Trương A H đồng ý về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Ông T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường được một phần thiệt hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có nhân thân tốt và khi thực hiện hành vi phạm tội chưa thành niên theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ông Nguyễn Văn K bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T5 đồng ý về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Ông K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha chết, mẹ bỏ cho bà nội nuôi dưỡng, trình độ học vấn thấp (không biết chữ), có nhân thân tốt và khi thực hiện hành vi phạm tội chưa thành niên theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hai bị cáo và bà B là người đại diện theo pháp luật cho bị cáo H, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện theo pháp luật cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận.

Hai bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời luận tội của Kiểm sát viên và lời bào chữa của ông T2, ông K được Hội đồng xét xử ghi nhận và xem xét khi nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ ngày 29/11/2023, Trương Anh H, Nguyễn Hửu T đã bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Hải Đ, Lê Nhật H2 là người dưới 16 tuổi, lén lút đột nhập vào nhà bà Nguyễn Thị N ở ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An để lấy trộm số tiền mặt 3.000.000 đồng và 01 (một) chiếc lắc bằng vàng 18k. Theo Kết luận định giá tài sản số: 78/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024, xác định: 01 (một) chiếc lắc loại khoen lật bằng vàng 18k, trọng lượng 07 chỉ có giá trị là 27.090.000 đồng. Tổng giá trị tài sản hai bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 30.090.000 đồng (ba mươi triệu không trăm chín mươi ngàn đồng). Tài sản hai bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của hai bị cáo đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc hai bị cáo cùng Lê Nhật H2, Nguyễn Hải Đ khi thực hiện hành vi phạm tội tuy có bàn bạc, nhưng không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ nên không xem xét đến tình tiết định khung hình phạt là phạm tội có tổ chức.

[3] Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 27/12/2010 và Lê Nhật H2, sinh ngày 16/4/2010 tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, ngày 29/11/2023 thì cả Đ và H2 chưa đủ 14 tuổi, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Bộ luật hình sự và căn cứ điểm a khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 thì H2, Đ không bị xử phạt vi phạm hành chính.

[4] Hành vi phạm tội của hai bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Hai bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của hai bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Trong vụ án cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như độ tuổi của từng bị cáo khi lượng hình

[5.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

[5.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: hai bị cáo phạm tội có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Anh H đã tác động gia đình bồi thường 7.500.000 đồng cho bị hại, nên được hưởng tính tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có cha đều đã chết), có nhân thân tốt và khi thực hiện hành vi phạm tội chưa thành niên, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5.3] Về độ tuổi, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của hai bị cáo: cả hai bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa thành niên (bị cáo Anh H 16 tuổi 09 tháng 05 ngày; bị cáo T 16 tuổi 08 tháng 02 ngày), bị cáo T là người chỉ địa điểm là nhà bà N, là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và bán tài sản chia tiền. Bị cáo H là người đề xuất việc thực hiện hành vi phạm tội, giúp sức về mặt tinh thần và được chia tiền, xét về nhân thân thì hai bị cáo có nhân thân tốt.

[6] Với những phân tích trên thì xét thấy hình phạt dành cho bị cáo T phải cao hơn bị cáo H. Xét thấy hai bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, chưa thành niên. Đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018, được sửa đổi bổ sung theo nội dung Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì xét thấy không cần cách ly, cho hai bị cáo hưởng án treo cũng có thể tự cải tạo trở thành người có ích cho xã hội và việc cho hưởng án treo đối với hai bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét thấy hai bị cáo chưa thành niên và áp dụng hình phạt tù cũng đủ giáo dục, răn đe, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[7] Đối với ông Nguyễn Văn Hồng T6, là chủ tiệm V có hành vi mua chiếc lắc vàng là tang vật của vụ án, nhưng lúc giao dịch ông T6 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là phù hợp.

[8] Về tang vật thu giữ: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý tang vật thu giữ như sau: Đối với 01 (một) mỏ lết bằng kim loại, dài 25cm của bị cáo T sử dụng để bẻ thanh sắt chắn cửa sổ nhà bà N, xét thấy giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 (hai) cây sắt hình khối, màu xám, dài 60cm ở cửa sổ phía sau nhà bà N, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà N, là phù hợp. Đối với 01 (một) xe mô tô màu xanh, hiệu Honda, loại C50, BS: 59LA-033.83 Lê Nhật H2 sử dụng để chở bị cáo T và Nguyễn Hải Đ đi thực hiện hành vi phạm tội. Qua điều tra, xác định được xe mô tô là tài sản hợp pháp của bà Tào Thị N1 là mẹ kế bị cáo H2, việc H2 tự ý sử dụng xe làm phương thực hiện hành vi phạm tội, bà N1 không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra trả cho bà N1, là phù hợp

[9] Về trách nhiệm dân sự: Do hai người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Nhật H2, Nguyễn Hải Đ dưới 15 tuổi, nên tại phiên tòa bà Nguyễn Thị N yêu cầu bị cáo Trương Anh H cùng mẹ là bà Trần Thị B, bị cáo Nguyễn Hửu T cùng là nội là bà Trần Thị Ú và ông Lê Phước T3, bà Đặng Thị Bạch T4 cùng liên đới bồi thường số tiền 22.590.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng), do đã khấu trừ số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) bà Trần Thị B là mẹ bị cáo H đã bồi thường. Xét thấy yêu cầu của bà N là có căn cứ và phù hợp, nên chấp nhận.

[10] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Trương Anh H cùng mẹ là bà Trần Thị B, bị cáo Nguyễn Hửu T cùng là nội là bà Trần Thị Ú và ông Lê Phước T3, bà Đặng Thị Bạch T4 phải liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền còn phải bồi thường cho bị hại là 22.590.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng) theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trương Anh H và Nguyễn Hửu T cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65; các Điều 90; 91; 98 và 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trương Anh H 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (28/5/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65; các Điều 90; 91; 98 và 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Hửu T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (28/5/2024).

Giao bị cáo Trương Anh H và Nguyễn Hửu T về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tang vật: tịch thu tiêu hủy 01 (một) mỏ lếch bằng kim loại, dài 25cm.

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSCG, ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; Điều 589; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trương Anh H cùng mẹ là bà Trần Thị B, bị cáo Nguyễn Hửu T cùng là nội là bà Trần Thị Ú và ông Lê Phước T3, bà Đặng Thị Bạch T4 phải liên đới bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thị N số tiền 22.590.000 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất pháp luật quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí:

Bị cáo Trương Anh H và Nguyễn Hửu T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trương Anh H cùng mẹ là bà Trần Thị B, bị cáo Nguyễn Hửu T cùng là nội là bà Trần Thị Ú và ông Lê Phước T3, bà Đặng Thị Bạch T4 phải liên đới nộp 1.129.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người đại diện cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 47/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Anh H và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger