|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HSST Ngày: 19 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và bà Ngô Thị Tân.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Nguyễn Văn D, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2001; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Võ Thị H, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo Nguyễn Văn M, sinh ngày 15 tháng 9 năm 2003; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị H1, chưa có vợ con; Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 12 tháng 01 năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1999; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T2, có vợ Trần Thị H2 đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.
2
Nhân thân: Ngày 13/9/2019, bị Công an huyện Q xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị hại:
Bà Võ Thị H3, sinh năm 1974; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hồ Minh N1, sinh năm 1967; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Trần Thái D1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
- - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 23/6/2024, Nguyễn Văn D cùng Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc T1 ngồi chơi tại quán sửa xe của Nguyễn Văn D. Trong lúc ngồi chơi, Nguyễn Văn D nói với Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc T1 tại kho trang trại chăn nuôi của bà Võ Thị H3 ở thôn P, xã A (ở bên cạnh quán sửa xe của D) có để nhiều bao thức ăn chăn nuôi, D rủ M và T1 lấy trộm bán để lấy tiền tiêu xài, M và T1 đồng ý. Nguyễn Văn D cùng Nguyễn Văn M mỗi người cầm theo một kềm bấm có sẵn ở trong quán của D2 và hàng rào B40 trang trại chăn nuôi của bà Võ Thị H3. Sau khi cắt xong hàng rào thì Nguyễn Văn D về nhà cảnh giới, còn Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc T1 sử dụng 01 xe mô tô HONDA WEVE RSX kéo theo 01 xe ba gác lấy tại quán sửa xe của Nguyễn Văn D (đây là xe của khách gửi lại tại quán của D để sửa, D không biết tên tuổi, địa chỉ của người này) để qua trang trại của bà H3 vào lấy trộm 24 (hai mươi bốn) bao bột thức ăn chăn nuôi mang đi. Tiếp đó, Nguyễn Văn M và Nguyễn Ngọc T1 đã mang đi bán 24 (hai mươi bốn) bao bột thức ăn chăn nuôi đã trộm được cho ông Hồ Minh N1, ở thôn P, xã V với số tiền 4.600.000 đồng. Ông Hồ Minh N1 mới đưa cho Nguyễn Ngọc T1 số tiền 3.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 15/TB-KLĐG, ngày 15/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 24 (hai mươi bốn) bao bột thức ăn chăn nuôi gia súc nhãn hiệu JUMBO, mỗi bao có trọng lượng 25kg có giá trị 8.400.000 đồng.
Về vật chứng: Ngày 24/6/2024, Công an xã V thu giữ từ bà Võ Thị H3 những vật chứng liên quan đến vụ trộm cắp bao gồm: 01 (một) kềm bấm dài 20cm, có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ dài 12cm; 01 (một) kềm bấm dài 16cm có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ - đen dài 10cm.
Ngày 24/6/2024, Công an xã V thu giữ từ ông Hồ Minh N1 những vật chứng liên quan đến vụ trộm cắp bao gồm: 22 (hai mươi hai) bao bột thức ăn chăn nuôi gia
3
súc, mỗi bao có trọng lượng 25kg, tổng trọng lượng 550kg, gồm 19 bao có võ màu trắng - xanh ghi nhãn hiệu JUMBO02; 03 bao có võ màu trắng - đỏ ghi nhãn hiệu JUMBO 113S.
Ngày 06/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q thi hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại 22 bao bột thức ăn chăn nuôi gia súc mỗi bao có trọng lượng 25kg, tổng trọng lượng 550kg, gồm 19 bao có võ màu trắng - xanh ghi nhãn hiệu JUMBO02; 03 bao có võ màu trắng - đỏ ghi nhãn hiệu JUMBO 113S cho bà Võ Thị H3.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Võ Thị H3 đã nhận 22 bao bột thức ăn chăn nuôi, trong đó có 12 bao đã hết hạn sử dụng, các bị cáo D, M, T1 đã bồi thường xong, bà H3 không có yêu cầu gì thêm; bị cáo Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Văn M đã bồi thường cho ông Hồ Minh N1 số tiền 3.000.000 đồng, ông N1 không có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS, ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và đã được bồi thường xong, không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) kềm bấm dài 20cm, có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ dài 12cm; 01 (một) kềm bấm dài 16cm có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ - đen dài 10cm.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, lời luận tội và mức án như đề nghị của Kiểm sát viên; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị hại đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, người làm chứng anh Trần Thái D1 vắng mặt. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác với thủ đoạn lợi dụng sự sơ hở, thiếu quản lý tài sản của chủ sở hữu, đã lén lút chiếm đoạt tài sản 24 (hai mươi bốn) bao bột thức ăn chăn nuôi gia súc của bà Võ Thị H3 giá trị 8.400.000 đồng.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1]. Về tính chất vụ án: Vụ án có 3 bị cáo cùng thực hiện chiếm đoạt tài sản nhưng không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm theo Điều 17 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo thực hiện việc chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây lo lắng, hoang mang cho nhân dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do đó, theo vị trí, vai trò và mức độ phạm tội của từng bị cáo trong vụ án để có mức hình phạt thỏa đáng, nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4.2]. Về trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
5
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn D với vai trò là người khởi xướng, người trực tiếp cầm kềm cắt hàng rào, cảnh giới; sau khi M, T1 bán được tài sản đã chia cho D số tiền nhiều nhất nên D phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án; Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 là người trực tiếp vào lấy tài sản, đi tiêu thụ tài sản nên cũng phải chịu trách nhiệm tương đương cùng bị cáo D.
Bị cáo Nguyễn Văn M đã bị kết án chưa được xóa án tích mà tiếp tục pháp tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; đã khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Văn M có bị hại có đơn xin bãi nại quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc T1 có công giúp đỡ người dân trong đợt dịch Covid-19 và trận lũ lịch sử năm 2020 được chính quyền địa phương xác nhận quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 đang bị khởi tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Xét thấy, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo tu dưỡng, rèn luyện sớm trở thành công dân tốt là phù hợp đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5]. Về các hành vi liên quan khác trong vụ án
Trong vụ án này, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 mang 24 bao bột thức ăn chăn nuôi bán cho ông Hồ Minh N1. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 và ông Hồ Minh N1 đều khai nhận ông Hồ Minh N1 không biết tài sản do Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 mang đến là tài sản do trộm cắp mà có, nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Hồ Minh N1.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Võ Thị H3 đã nhận lại tài sản, trong đó có 12 bao đã hết hạn sử dụng giá trị 4.200.000 đồng, các bị cáo D, M, T1 đã bồi thường xong, bà H3 không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Ông Hồ Minh N1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 trả lại số tiền 3.000.000 đồng đã mua 24 bao bột thức ăn chăn nuôi gia súc; hiện nay bị cáo M và T1 đã bồi thường xong, ông N1 không có ý kiến gì; các bị cáo M, T1 không yêu cầu bị cáo D trả lại tiền đã bồi thường cho ông N1 nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[7]. Về vật chứng vụ án: Ngày 06/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q xử lý vật chứng trả lại 22 (hai mươi hai) bao bột thức ăn chăn nuôi gia súc, mỗi bao có trọng lượng 25kg, tổng trọng lượng 550kg, gồm 19 (mười chín) bao có vỏ màu trắng - xanh ghi nhãn hiệu JUMBO 02, 03 (ba) bao có vỏ màu trắng - đỏ ghi nhãn hiệu JUMBO 113S cho bà Võ Thị H3 là chủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử miễn xét.
6
Đối với 01 (một) kềm bấm dài 20cm, có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ dài 12cm; 01 (một) kềm bấm dài 16cm, có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ - đen dài 10cm là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại RSX, màu đỏ-đen (không rõ biển số) và 01 (một) xe ba gác các bị cáo chở tài sản đi tiêu thụ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không thấy nên không xem xét xử lý.
[8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 298, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
7
- Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) kềm bấm dài 20cm, có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ dài 12cm; 01 (một) kềm bấm dài 16cm, có phần tay cầm bằng nhựa cứng màu đỏ - đen dài 10cm có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 18/10/2024.
- Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Nguyễn Ngọc T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nhàn |
8
Bản án số 47/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử bị cáo Nguyễn Văn D cùng đồng phạm
