Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 14-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Tấn Khoa.
  2. Ông Bá Đình Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh ngày 30 tháng 01 năm 1980, nơi sinh tại Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ B, ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị T1; có vợ là Phùng Thị Thủy N1 (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, được khấu trừ thời gian tạm giam là 08 tháng 06 ngày, còn phải chấp hành 3 tháng 24 ngày tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (đã được xóa án tích) tại Bản án số 03/2009/HSST; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại:

  • + Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1970 (có mặt)

    Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  • + Bà Văn Thị Xuân L, sinh năm 1965 (có mặt)

    Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  • + Ông Đặng Minh H, sinh năm 1963 (có mặt)

    Địa chỉ thường trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người làm chứng:

  • + Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984 (có mặt)

    Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  • + Đặng Thị Kim Q, sinh năm 1989 (có mặt)

    Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  • + Phạm Tấn H2, sinh năm 1985 (có mặt)

    Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T làm nghề lao động tự do và để có tiền tiêu xài cá nhân, T dùng thủ đoạn làm môi giới dịch vụ tách thửa đất và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đưa ra thông tin sai sự thật là có quen biết một số cán bộ tỉnh Bình Thuận làm trong lĩnh vực xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cho một số hộ dân tin nhằm chiếm đoạt tiền làm thủ tục tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:

Vào đầu năm 2022, ông Nguyễn Thanh T2 có nhu cầu tách thửa đất và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất do gia đình khai hoang tại xã H, huyện B. Thông qua bạn bè, ông T2 nghe nói T làm nghề môi giới đất có làm dịch vụ tách thửa đất và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng dất nên đã gặp hỏi nhờ T để làm. Sau khi gặp T2, T khoe có quen biết một số cán bộ ở tỉnh Bình Thuận và khẳng định làm được theo yêu cầu nên ông T2 đã thuê T làm.

Cũng tương tự như ông T2, bà Văn Thị Xuân L có con trai là Phạm Tấn H2 cũng làm nghề môi giới đất, trong một lần dẫn khách đi xem đất đã gặp và quen biết T, biết được T có dịch vụ này, H2 về bảo mẹ thuê T làm dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 17,2 ha đất của gia đình mua lại tại xã S, huyện B.

Ông Đặng Minh H có con gái là Đặng Thị Kim Q cũng làm nghề môi giới đất, là chỗ bạn bè với Phạm Tấn H2, được H2 giới thiệu, Q cũng bảo cha mình thuê T làm dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 7,3 ha đất của gia đình tại xã S, huyện B.

2

T cũng nhận lời của tất cá các hộ trên, giao hẹn từ 4 - 6 tháng sẽ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ra giá như sau: Mảnh đất của ông T2 vừa tách thửa vừa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 140.000.000 đồng; đối với hộ ông Đặng Minh H là 50.000.000 đồng/ha, tổng diện tích: 7,3 ha; đối với hộ bà Văn Thị Xuân L là 40.000.000 đồng/ha, tổng diện tích: 17,2 ha.

Sau khi thỏa thuận giá cả với các hộ dân thì T đã nhận tiền cọc như sau:

  • - Nhận của ông T2 50.000.000 đồng và làm hợp đồng vào ngày 21/3/2022.
  • - Nhận của bà L 54.000.000 đồng và làm hợp đồng ngày 15/7/2022.
  • - Nhận của ông H 140.000.000 đồng và làm hợp đồng ngày 19/7/2022.

Trên hợp đồng ghi nội dung là T sẽ làm dịch vụ, thêm tên, tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi nhận được tiền cọc, T thuê Nguyễn Văn H1 là nhân viên công ty TNHH Một thành viên Đ chi nhánh N2 đến đo đất, lập sơ đồ bản vẽ cho các hộ dân thì H1 nói với T “chỉ đo thôi nhưng không thể căn cứ vào bản vẽ của H1 để làm sổ đỏ”, T nghe vậy nhưng vẫn đồng ý và dặn anh Nguyễn Văn H1 “nếu người dân hỏi H1 là ai thì nói là cán bộ ở tỉnh xuống đo đất để làm sổ đỏ”, anh H1 từ chối và nói bên tư nhân đi đo thì sao nói nhà nước được. Khi anh H1 đo đất, các hộ dân có hỏi T anh H1 là ai thì T nói “người ở trên tỉnh về đo đất” với mục đích để tạo niềm tin với họ (các hộ dân không hỏi đến ông H1 nên ông H1 không nói mình là ai). Sau khi đo đạc xong, T đem sơ đồ bản vẽ và hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cho các hộ dân ký. Nhưng T không nộp hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền thẩm định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chụp hồ sơ gửi cho những người làm môi giới đất am hiểu về thủ tục cấp giấy CNQSDĐ (không rõ ai) để nhờ họ xem những thửa đất trên có làm giấy CNQSDĐ và tách thửa được không. T không nhận được câu trả lời nên cũng không đem hồ sơ đến nộp, sau đó làm mất hồ sơ (theo lời khai của T). Tuy nhiên sau đó do cần tiền để chi tiêu cá nhân, T đã nhiều lần yêu cầu các hộ dân trên đưa thêm tiền cho T với lý do cần tiền để “quan hệ, giao dịch” nên các hộ trên đã tin tưởng chuyển thêm tiền cho T, cụ thể:

T yêu cầu bà L đưa thêm tiền và đã nhận các lần như sau: Trước ngày 09/8/2022 (bà L không nhớ ngày) đưa 38.000.000 đồng; Ngày 09/8/2022 đưa 75.000.000 đồng; Ngày 24/11/2022 đưa 35.000.000 đồng.

T yêu cầu ông H đưa thêm tiền và đã nhận các lần như sau: Trước ngày 19/12/2022 (ông H không nhớ ngày) đưa 40.000.000 đồng. Ngày 19/12/2022 đưa 37.250.000 đồng.

Tổng cộng T đã nhận của ông Nguyễn Thanh T2 01 lần số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào ngày 21/3/2022; nhận của ông Đặng Minh H 03 lần từ ngày 19/7/2022 đến ngày 19/12/2022 với tổng số tiền là 217.250.000 đồng (hai trăm mười bảy triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng);

3

nhận của bà Văn Thị Xuân L 04 lần tiền từ ngày 15/7/2022 đến ngày 24/11/2022 với tổng số tiền là 202.000.000 đồng (hai trăm lẻ hai triệu đồng).

Tiền nhận được của 03 hộ trên, T khai sử dụng cho việc trả tiền đo đất khoảng 10.000.000 đồng, trả nợ T vay trên app 78.000.000 đồng, còn lại T tiêu xài hết. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt của 03 hộ dân trên là 469.250.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Ông Nguyễn Thanh T2 giao nộp: 02 hợp đồng dịch vụ tách thửa, sang tên chủ quyền đất ngày 21/3/2022 số tiền 140.000.000 đồng (T nhận trước số tiền 50.000.000 đồng).

Đặng Thị Kim Q giao nộp 01 hợp đồng nhận tiền làm đất ngày 16/7/2022 giữa ông Đặng Minh HNguyễn Thanh T, số tiền nhận 140.000.000 đồng.

Văn Thị Xuân L giao nộp: 01 hợp đồng nhận tiền làm đất số tiền nhận lần 1 ngày 15/7/2022 là 54.000.000 đồng; 01 giấy nhận tiền ngày 09/8/2022 số tiền 92.000.000 đồng và 75.000.000 đồng; 01 giấy nhận tiền là 27.000.000 đồng, 01 giấy biên nhận viết tay của Nguyễn Thanh T đề ngày 24/11/2022 xác nhận việc T có nhận số tiền 8.000.000 đồng + 27.000.000 đồng = 35.000.000 đồng của bà Văn Thị Xuân L.

Các tài liệu này được chuyển kèm hồ sơ vụ án.

Về phần bồi thường dân sự: Ông Nguyễn Thanh T2 yêu cầu Nguyễn Thanh T phải bồi thường gấp đôi số tiền T đã nhận của ông T2 như cam kết là 100.000.000 đồng; ông Đặng Minh H yêu cầu T hoàn trả cho ông số tiền 217.250.000 đồng; bà Văn Thị Xuân L yêu cầu T hoàn trả cho bà số tiền 202.000.000 đồng. Đến nay, gia đình bị cáo T đã bồi thường cho các bị hại tổng cộng số tiền 140.000.000 đồng, trong đó: đã bồi thường cho cho ông Thuật số tiền 15.000.000 đồng, bồi thường cho ông H số tiền 65.000.000 đồng và bồi thường cho bà L 60.000.000 đồng. Số tiền còn lại đến nay T chưa bồi thường.

*Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSBB ngày 09/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền còn lại cho các bị hại, cụ thể: Bồi thường cho ông Nguyễn Thanh T2 số tiền 35.000.000 đồng; bồi thường cho ông Đặng Minh H số tiền 152.250.000 đồng, bồi thường cho bà Văn Thị Xuân L số tiền 142.000.000 đồng.

Bị cáo trình bày: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị hại trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường số tiền còn lại, về phần hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Thanh T đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật là có quen biết một số cán bộ tỉnh Bình Thuận làm trong lĩnh vực xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để những người khác tin tưởng ký hợp đồng dịch vụ với bị cáo để thực hiện thủ tục tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế bị cáo không thực hiện các công việc nêu trên mà chiếm đoạt tiền dùng để tiêu xài cá nhân, cụ thể: Ngày 21/3/2022, chiếm đoạt của ông Nguyễn Thanh T2 số tiền 50.000.000 đồng; từ ngày 19/7/2022 đến ngày 19/12/2022, chiếm đoạt của ông Đặng Minh H tổng số tiền là 217.250.000 đồng; từ ngày 15/7/2022 đến ngày 24/11/2022, chiếm đoạt của bà Văn Thị Xuân L tổng số tiền là 202.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo T đã chiếm đoạt của các bị hại là 469.250.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”, đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

5

sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại độc lập với nhau về mặt thời gian, chủ thể, đồng thời mỗi lần thực hiện hành vi lừa đảo của bị cáo đều cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và mỗi hành vi đó đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Nguyễn Thanh T là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra phải chăm chỉ cố gắng phát triển kinh tế để giúp đỡ gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã dùng những thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thanh T có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 03/2009/HSST ngày 21/01/2009 nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải nghiêm trị, dành cho bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo T đã bồi thường cho ông T2 số tiền 15.000.000 đồng, bồi thường cho ông H số tiền 65.000.000 đồng, bồi thường cho bà L 60.000.000 đồng, tổng số tiền là 140.000.000 đồng nên. Các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại mà bị cáo đã chiếm đoạt, xét thấy yêu cầu này là chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo T phải tiếp tục bồi thường cho ông Thuật số tiền 35.000.000 đồng, bồi thường cho ông H số tiền 152.250.000 đồng, bồi thường cho bà L số tiền 142.000.000 đồng.

[7] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 16.462.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

6

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 8 năm 2023.

Căn cứ vào: Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải bồi thường cho các bị hại tổng cộng 329.250.000 đồng, cụ thể: Bồi thường cho ông Nguyễn Thanh T2 số tiền 35.000.000 đồng; bồi thường cho ông Đặng Minh H số tiền 152.250.000 đồng, bồi thường cho bà Văn Thị Xuân L số tiền 142.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ vào: Điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 16.462.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/5/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận (trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật);
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đỗ Hoàng Huy

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger