Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Thẩm phán phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đinh Công Danh, ông Huỳnh Công Trí và bà Trần Thị Binh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn C, sinh ngày 24/8/1992; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá C1, sinh năm 1965 và bà Lê Thị C2, sinh năm 1967; có vợ Nguyễn Thị C3, sinh năm 1992 và 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn C: Ông Lý Mạnh D – Luật sư, Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P; có mặt.

- Bị hại: Võ Quốc B, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Bá C1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Bà Lê Thị C2, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Ông Lê Văn P, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  4. Ông Võ Quốc T, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 24/7/2023, ông Nguyễn Bá C1 gọi anh Võ Quốc B (tài xế taxi) đến nhà ông C1 tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên chở Nguyễn C đi khám bệnh. Do C có triệu chứng bị tâm thần và nhiều lần được anh B lái xe chở đi điều trị nên khi thấy anh B điều khiển xe ô tô biển số 78A-071.65 đến, C đã rượt đuổi đánh anh B, anh B bỏ chạy đến nhà ông Lê Văn P, trốn vào nhà tắm, C lấy dao phay dài 37cm đuổi theo, dùng dao chém bung cánh cửa, đâm 01 nhát vào vùng cổ trái của anh B gây vết thương dài 03cm, sâu 04cm, sờ thấy khối tụ dịch kích thước (4x5)cm thì được mọi người can ngăn đưa anh B đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 302 ngày 23/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Võ Quốc B tại thời điểm giám định là 18%, do vật sắc nhọn tác động.

Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 241 ngày 13/12/2023 của Trung tâm P1 kết luận:

+ Về y học: Trước, trong, sau ngày 24/7/2023 và hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn C bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu.

+ Về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong, sau ngày 24/7/2023 và hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn C bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSPY-P1 ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn C về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn C phạm tội “Giết người”;

Về hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt: bị cáo Nguyễn C t 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Về trách nhiện dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 37cm gồm phần cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 22cm, phần mũi dao bị gãy.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 60.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo đã từng tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; có ông nội ruột, bác ruột là liệt sĩ, bà nội ruột là Mẹ Việt Nam anh hùng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm án cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt hai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, các bản kết luận giám định và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 24/7/2023, tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nguyễn C có hành vi rượt đuổi, dùng dao chém bung cảnh cửa nhà tắm nơi anh Võ Quốc B đang ẩn lấp và đâm 01 nhát vào vùng cổ bên trái của anh B, anh B được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 18%. Nên bản Cáo trạng số 57/CT-VKSPY-P1 ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn C về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn C không chỉ đe dọa đến tính mạng, xâm phạm đến sức khoẻ bị hại trái pháp luật, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an – an toàn xã hội tại địa phương, nên cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “chưa đạt”, là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 60.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; mặt khác bị cáo đã từng tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; có ông nội ruột, bác ruột là liệt sĩ, bà nội ruột là Mẹ Việt Nam anh hùng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt, cũng đủ răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Nguyễn C đã bồi thường cho bị hại Võ Quốc B số tiền 60.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) con dao dài 37cm gồm phần cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 22cm, phần mũi dao bị gãy, không sử dụng được; là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng vụ án có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn C bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn C phạm tội “Giết người”;

  1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;
  2. Phạt: Bị cáo Nguyễn C – 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 01/02/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  4. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 37cm gồm phần cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 22cm, phần mũi dao bị gãy.

    Vật chứng đều có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

  5. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  6. Bị cáo Nguyễn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Tòa án nhân dân cấp cao (1);
  • - VKSND cấp cao (1);
  • - VKSND tỉnh (2);
  • - PV 06 (1);
  • - PC 01 (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - P.KTNV;
  • - Lưu AV, HS;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vụ án hình sự (tội giết người)

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tội Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger