TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024. | - |
NHÂNDANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lê
Ông Nguyễn Đức Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng-Kiểm sát viên.
- Những người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Thành Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh và phòng xét xử án trực tuyến - Công an huyện H, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Việt A, tên gọi khác: không; sinh ngày: 25/9/1994, tại: H, Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn C, xã Q, huyện H, Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong ngày 13/02/2018 (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt quả tang ngày 17/9/2024, bắt bị can để tạm giam ngày 24/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người làm chứng: Ngô Hồng Q; Đỗ Trung K1;
- Người chứng kiến: Hoàng Văn Đ;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Phạm Việt A điện thoại cho Vũ Đình T (sinh năm: 1988; trú tại: khu Q, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh) hỏi mua ma túy. Sau đó theo chỉ dẫn của T, Việt A mang 1.000.000 đồng để tại khu vực gốc cây gần khách sạn M thuộc khu phố H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh rồi lấy túi ma túy đá do T để sẵn ở đấy. Sau khi mua được ma túy, Việt A không sử dụng ngay mà cất giấu trong người. Đến trưa ngày 17/9/2024, trong thời gian nghỉ giữa ca làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1, Việt A đã mang số ma túy trên ra nhà vệ sinh tự sử dụng một phần, còn lại tiếp tục cất giấu trong túi quần bên phải. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Việt A tan ca và đứng ở cổng công ty thuộc thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh để chuẩn bị về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Việt A gồm: 01 gói giấy bên trong có 01 túi nilon kích thước (02x2,5)cm có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) theo Việt A khai nhận là ma túy đá cất giấu để sử dụng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, màu ghi, bên ngoài dùng ốp màu trắng sữa, bên trong điện thoại gắn 01 sim có số thuê bao là 0934.241.109.
Tại bản Kết luận giám định số 1498/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật ký hiệu M là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,177 gam.
Về vật chứng: đối với số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động thu giữ của Việt A chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự huyện H theo quy định.
Bản Cáo trạng số 1161/CT-VKSHH ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố bị cáo Phạm Việt A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Việt A khai: do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Việt A đã liên lạc với Vũ Đình T và mua của T 01 túi ma túy đá với giá 1.000.000đ. Mua được ma túy bị cáo cất giấu vào túi quần mang đi làm để sử dụng. Trưa ngày 17/9/2024 trong thời gian nghỉ giữa ca V lấy một phần ma túy ra sử dụng, phần còn lại cất giấu trong túi quần bên phải. Khi tan ca chuẩn bị về nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng là số ma túy giấu trong túi quần và 01 điện thoại di động. Bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Người làm chứng Ngô Hồng Q, Đỗ Trung K1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai trong quá trình điều tra thể hiện: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/9/2024 giờ tan ca, các anh đi về đến cổng Công ty TNHH Đ1 thuộc thôn A, xã Q, huyện H thấy lực lượng Công an đang kiểm tra một nam thanh niên và nhìn thấy: khi Công an kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của người thanh niên đó có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 01 điện thoại di động. Lúc này người đó khai tên là Phạm Việt A, sinh năm 1994 nhà ở thôn C, xã Q, huyện H và túi nilon trong người của Việt A là ma túy đá, Việt A mua để sử dụng. Các anh đã được lực lượng Công an mời về trụ sở để tham gia ký xác nhận vào biên bản.
Người chứng kiến Hoàng Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện anh được lực lượng Công an mời đến trụ sở để chứng kiến việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Phạm Việt A, sinh năm 1994; trú tại: thôn C, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Tại trụ sở Công an V1 khai nhận trong khi đang cất giấu 01 gói giấy bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý đá mà Việt A mua với mục đích sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Việt A từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1498/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 sim điện thoại: số 0934.241.xxx không còn giá trị sử dụng;
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi bên ngoài dùng ốp màu trắng sữa thu giữ của bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người chứng kiến và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 17/9/2024, tại thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Việt A có hành vi cất giấu trái phép 0,177gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Việt A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của việc mua bán, sử dụng ma túy, nhưng vì lối sống buông thả và nhu cầu cá nhân nên bị cáo thực hiện hành vi: tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong ngày 13/02/2018, đã được xóa án tích.
- Về tình tiết tăng nặng: không có;
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Số ma tuý được hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi bên ngoài dùng ốp màu trắng sữa thu của bị cáo là phương tiện bị cáo dùng liên lạc mua ma tuý, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
[6] Trong vụ án này có Vũ Đình T là người bán ma túy cho Việt A. Vũ Đình T đang bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q khởi tố vụ án, khởi tố bị can và điều tra làm rõ về hành vi phạm tội, trong đó có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Việt A vào thời gian tháng 8/2024 tại khu phố H, thị trấn Q, huyện H. Cơ quan CSĐT Công an huyện H không đề cập trong vụ án này. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Phạm Việt A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Việt A 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2/ Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy trong 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1498/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 sim điện thoại: số 0934.241.xxx không còn giá trị sử dụng;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu ghi bên ngoài dùng ốp màu trắng sữa thu của bị cáo Phạm Việt A;
Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 05/2024/THA ngày 15/11/2024.
3/ Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Phạm Việt A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng giữa tháng 8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Phạm Việt A điện thoại cho Vũ Đình T (sinh năm: 1988; trú tại: khu Q, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh) hỏi mua ma túy. Sau đó theo chỉ dẫn của T, Việt A mang 1.000.000 đồng để tại khu vực gốc cây gần khách sạn M thuộc khu phố H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh rồi lấy túi ma túy đá do T để sẵn ở đấy. Sau khi mua được ma túy, Việt A không sử dụng ngay mà cất giấu trong người. Đến trưa ngày 17/9/2024, trong thời gian nghỉ giữa ca làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1, Việt A đã mang số ma túy trên ra nhà vệ sinh tự sử dụng một phần, còn lại tiếp tục cất giấu trong túi quần bên phải. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Việt A tan ca và đứng ở cổng công ty thuộc thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh để chuẩn bị về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm traphát hiện bắt quả tang
