TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Minh Côn
2. Ông Nguyễn Việt Hưng
- Thư ký phiên toà: Ông Ma Đình Dũng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã L huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hoàng T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02/7/1980; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Mạnh C (đã chết) và bà: Vũ Thị H, sinh năm 1937; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Có vợ là: Ngô Thị H1, sinh năm 1984; Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 75/2021/HSST ngày 16/3/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã tuyên phạt Trần Hoàng T 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022. Bản án chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 182/2015/HSST ngày 23/6/2015, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã tuyên phạt Trần Hoàng T 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/8/2016. Bản án đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1982 (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Người chứng kiến: Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, Tổ công tác Công an xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm H, xã L, huyện Đ, phát hiện một nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, gắn BKS: 20F1-403.97 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm ma túy. Tổ công tác Công an xã L đã tiếp cận và yêu cầu kiểm tra thì nam thanh niên chấp hành và khai báo họ tên là Trần Hoàng T, đồng thời tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 (một) gói giấy có nhiều màu và có chữ, bên trong có chứa chất bột màu trắng. T khai là ma túy loại Heroine do T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) gói giấy có nhiều màu và có chữ, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, gắn BKS: 20F1-403.97. Xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã L đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng thu giữ cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Trần Hoàng T. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã phối hợp với Phòng K - Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Trần Hoàng T có trong phong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,360 gam, lấy toàn bộ niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 làm mẫu giám định. Vỏ giấy gói và vỏ phong bì A được niêm phong vào phong bì A2 để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận giám định số 136/ KL - KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,360 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Trần Hoàng T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 20F1 - 403.97 của em trai là Trần Quốc V, sinh năm 1982, trú tại xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực B tỉnh Thái Nguyên với mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và đã mua được 01 (một) gói chất ma túy loại Heroine từ một người đàn ông không quen biết với giá
200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, T cất giấu Heroine vào trong người rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi đến khu vực xóm H, xã L, huyện Đ thì bị Tổ công tác của Công an xã L phát hiện quả tang và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm:
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (Bên trong là số Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu);
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (Bên trong là vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong ký hiệu A);
Hiện toàn bộ số vật chứng trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Đối với 01 xe mô tô Honda Airblade, BKS: 20F1-403.97. Quá trình điều tra xác định là xe của anh Trần Quốc V cho bị cáo mượn, nhưng anh V không biết bị cáo mượn xe đi mua heroine, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe cho anh Trần Quốc V quản lý, sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSĐT, ngày 02/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên ký hiệu: A1 và A2.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực thuộc xóm H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trần Hoàng T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,360 gam chất ma túy, loại Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã L bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Về nguồn gốc số Heroine, T khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực B tỉnh Thái Nguyên với số tiền 200.000 đồng, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
a)....
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Nên cần được xử lý nghiêm, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, nhưng là người có nhân thân rất xấu, là đối tượng nghiện ma tuý nhiều năm, năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo có 01 tiền án, năm 2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022, bản án chưa được xoá án tích, do đó lần phạm tội lần này là tái phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Lần phạm tội lần này là tái phạm do đó bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. HĐXX thấy, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; tuy nhiên, cũng xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời. Mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[6]. Vật chứng của vụ án: Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1 và A2 là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Các nội dung có liên quan khác:
+ Trong vụ án bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại khu vực B tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ của người đàn ông trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
+ Đối với chiếc xe mô tô BKS 20F1- 403.97 bị cáo sử dụng đi mua ma tuý, anh Trần Quốc V là chủ sở hữu và là người cho bị cáo mượn chiếc xe. Tuy nhiên, anh V không biết việc bị cáo mượn xe mô tô đi mua Heroine nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không xử lý đối với anh V và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ trả lại chiếc xe BKS 20F1-403.97 cho anh V quản lý, sử dụng là có phù hợp với quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử phạt: Trần Hoàng T 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Quyết định tạm giam bị cáo Trần Hoàng T 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 đều còn nguyên tình trạng niêm phong.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong Quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ - VKSĐT ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh V báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Nguyễn Triệu Cẩm Chi |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Hoàng Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
