|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST |
Ngày 24 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm
Ông Lê Đăng Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo: Vi Văn T, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2005 tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vi Văn T1, sinh năm 1982; Mẹ đẻ: Hà Thị M, sinh năm 1984; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1950 (Đã chết)
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện hợp pháp gia đình Bị hại: Anh Lê Trung K, sinh năm 1984. Có mặt
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
- Anh Trịnh Xuân P, sinh năm 1993. Vắng mặt
- Chị Lê Thị Kim C, sinh năm 2006. Có mặt
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985. Có mặt
- Chị Hà Thị M, sinh năm 1984. Có mặt
Đ chỉ: Khu 3 thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Chiều tối ngày 13/02/2024 Vi Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 190.03 đi từ xã T huyện N về nhà tại thị trấn T, huyện T. Khoảng 19h 45 phút T điều khiển xe mô tô đến đường H đoạn qua thôn H xã X, huyện T ở phần đường bên phải theo chiều đi của mình. Thời điểm này trời đã tối, do không làm chủ tốc độ nên T không chủ động quan sát được người và phương tiện di chuyển phía trước. Cùng lúc này bà Ngô Thị H(sinh năm 1950, trú tại: Thôn H xã X, huyện T) đi bộ qua đường theo chiều từ trái sang phải so với hướng di chuyển của T. Khi bà H đi bộ qua hơn nửa đường (sang phần đường mà xe mô tô của T đang đi đến) cách xe mô tô khoản 1 - 2m thì T mới phát hiện thấy bà H. Do khoảng cách quá gần nên T không kịp xử lý, dẫn đến phần đầu xe mô tô do T điều khiển đâm va vào người bà H. Sau khi sảy ra va chạm T cùng xe mô tô trượt ngã khoảng 30 - 40m trên mặt đường. Bà H bị thương bất tỉnh, được đưa đi cấp cứu nhưng sau đó đã tử vong.
Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Vi Văn T tại thời điểm 21h 02 phút ngày 13/02/2024, kết quả: 0,000mg/L.
Kết luận giám định số 1144/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của V Bộ C2 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong mẫu máu của Vi Văn T.
Hiện trường nơi sảy ra tai nạn giao thông là đoạn Km 570+950 đường H thuộc địa phận thôn H xã X, huyện T. Đoạn đường thẳng được rãi nhựa rộng 8,2m, dốc thoải xuống theo chiều đường từ Bắc qua N, trong đó hướng Bắc là hướng đi huyện N; H là hướng đi huyện T; H tiếp giáp với các hộ ông Trịnh Đình D, Lê Xuân K1, Nguyễn Văn S; Hướng Tây tiếp giáp với các hộ bà Ngô Thị H, Nguyễn Văn C1. Ở giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt.
Lấy cột mốc ký hiệu Km 571 tại lề đường phải đường H theo hướng từ Bắc qua N là điểm mốc, từ điểm mốc kẻ đường thẳng vuông góc với vạch sơn màu vàng nét đứt tại giữa đường, tạo thành đường cố định (Ký hiệu A); Lấy mép đường phải đường H theo hướng từ Nam qua B là vạch chuẩn (Ký hiệu B), phát hiện:
- 01 vết cà trượt không liên tục trên mặt đường dài 31,15m. Vết có chiều N (hơi chếch Đ- T). Vị trí vết: Đầu vết các A là 69,5m về hướng B, cách B là 2,25m; Cuối vết cách B là 3,22m. Vết có diện rộng nhất là 0,55m, gồm các vết đơn là 0,01m - 0,025m. Kí hiệu 1.
- 01 vết chấm màu nâu đỏ đã khô, kích thước (0,6 x 0,18)m. T3 vết cách đầu vết (1) là 3.8m về hướng Đ, cách B là 0,5m(trên lề đường). Ký hiệu 2.
- Xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 190.03 được dựng đứng tại lề đường, có đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. Vị trí xe mô tô: T3 trục bánh xe trước cách B 0,9m, cách điểm cuối vết (1) là 4,2m về hướng Đ: T3 trục bánh xe sau cách B là 2,1m. Ký hiệu (3).
Xác minh biển báo giao thông đường bộ:
- Tại lề đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện N, cách vị trí sảy ra tai nạn khoảng 250m có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (Biển 207 C).
- Tại lề đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện N, cách vị trí sảy ra tai nạn khoảng 150m có biển cảnh báo “đi chậm” (biển W.245a).
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T giám định dấu vết cơ học liên quan đến vụ tai nạn giao thông, xác định dấu vết trên xe mô tô như sau:
- Xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03:
+ Mặt lăn má phải lốp trước (tương ứng sau hàng chữ “VIP”) có vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, mòn cao su, kích thước (19x4,5)cm, vết có chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến, bề mặt vết in các vân sọc song song. Cạnh hoa văn lốp rộng 2,7cm, cách nhau 0,5cm.
+ Mặt ngoài bên phải chắn bùn bánh trước giảm sóc trước bên phải, bên phải mặt nạ, cánh yếm bên phải, ốp nhựa bên phải đầu xe có vết tì trượt làm sạch bụi đất trong diện (80 x 70)cm, vết có chiều từ trước về sau, chếch từ dưới lên trên. Bề mặt vết in các vân sọc song song(dạng vân vải), vết cao so với mặt đất là 27cm- 107cm.
+ Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ rời khỏi xe.
+ Mặt trước ngoài bên trái đầu xe, cánh yếm bên trái, giá để chân trước bên trái, ốp nhựa bên trái thân xe, bên trái tay nâng có các vết cà trượt làm mòn nhựa, kim loại và cao su, chiều hướng vết từ trước về sau, từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính chất màu trắng đục(dạng bột đá).
Kết luận giám định số 956/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 và bà Ngô Thị H.
Các vết ghi nhận tại mặt lăn má phải lốp trước (tương ứng sau hàng chữ “VIP”) mặt ngoài bên phải chắn bùn bánh trước giảm sóc trước bên phải, bên phải mặt nạ, cánh yếm bên phải, ốp nhựa bên phải đầu xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 phù hợp do va chạm với chất liệu vải sợi tạo nên.
- Tại thời điểm sảy ra tai nạn xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 chuyển động theo hướng từ huyện T đi huyện N.
- Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03 và bà Ngô Thị H tại thời điểm sảy ra tai nạn.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thu thập 01file video được trích xuất từ camera của nhà bà Trịnh Thị H1, (sinh năm 1978, trú tại: Thôn H xã X, huyện T) ghi nhận nội dung vụ tai nạn giao thông và trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với file video trên tại phòng K2 Công an tỉnh T. Tại Kết luận giám định số 1637/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định. Trích xuất 06 ảnh của file video trên.
- Không xác định được tốc độ di chuyển của xe mô tô trong vụ tai nạn giao thông.
Cơ quan điều tra đã cho Vi Văn T xem hình ảnh video được trích xuất từ video qua công tác giám định. T xác nhận hình ảnh, video phản ánh đúng diễn biến vụ tai nạn giao thông.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trưng cầu phòng K2 Công an tỉnh T giám định pháp y tử thi đối với bà Ngô Thị H. Tại Kết luận giám định tử thi số 897/KLGĐTT-PC09 ngày 06/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Kết quả khám nghiệm: Các vết xây xước da, bầm tụ máu, sưng nề tại vùng: Đầu, ngực, bụng, hông, mông, tay phải, hai chân; Hố mắt phải tụ máu; Gãy 1/3 trên và 1/3 dưới hai xương cẳng chân phải; Gãy 1/3 dưới hai xương cẳng chân trái; Tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng ngực, bụng; Gãy 1/3 giữa thân xương ức. Gãy cung trước xương sườn 4, 5 bên phải; Gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5, 6 bên trái; Máu không đông tại khoang ngực và ổ bụng; Dập, rách, tụ máu thùy trên, thùy dưới phổi trái; D1, vỡ gan.
- Kết luận nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình Bị hại đề nghị bồi thường số tiền 426.410.000₫ gồm: Mai táng phí 126.410.000đ; Tổn thất tinh thần 100 tháng lương cơ sở = 180.000.000đ; Chi phí cấp dưỡng cho con đẻ của bà Lê Thị H2 là anh Lê Trung D2 với mức 500.000đ/tháng trong 20 năm là 120.000.000đ.
Hiện tại Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 24.000.000₫ nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36D1-190.03, nhãn hiệu HONDA FUTUREF1, màu sơn đen, xám, vàng; Số khung RLHJC5351DY022287, số máy JC54E1036042 không có giấy chứng nhận đăng ký xe và không có Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm Dân sự của chủ xe. Xe mô tô trên là của bà Hà Thị M(mẹ đẻ của Bị cáo) mua từ năm 2014 của anh Trịnh Xuân P. Quá trình sinh sống đã để mất giấy tờ liên quan đến xe và chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu nên thông tin chủ xe đăng ký vẫn mang tên Trịnh Xuân P. Qua tra cứu hệ thống dữ liệu xe vật chứng, kết quả xe mô tô không là tang vật, vật chứng thuộc vụ án, vụ việc khác. Cơ quan CSĐT đã chuyển xe mô tô trên cho Công an Giao thông xử lý hành chính theo quy định. Bà M đã nhận lại xe và không yêu cầu gì.
Cáo trạng số 50/CT-VKSTX ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Vi Văn T về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bị cáo Vi Văn T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Bị cáo Vi Văn T từ 12(Mười hai) tháng tù đến 15(Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo; Về dân sự: Buộc Bị cáo phải bồi thường thường thiệt hại cho gia đình Bị hại gồm: Tổn thất tinh thần 100 tháng lương tối thiểu là 180.000.000đ; Tiền mai táng phí từ 30.000.000đ đến 40.000.000đ; Cấp dưỡng cho con trai bà Lê Thị H2 là anh Lê Trung D2 mỗi tháng 500.000đ kể từ tháng 02/2024 đến khi anh Lê trung D3 chết; Buộc Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo; Đại diện gia đình Bị hại không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 19h 45phút ngày 13/02/2024 trên đường H đoạn qua thôn H xã X, huyện T, Bị cáo Vi Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36D1- 190.03 đi theo hướng từ huyện N về thị trấn T,huyện T do không chấp hành theo chỉ dẫn biển báo, không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát đã điều khiển xe đâm va vào bà Ngô Thị H đang đi bộ trên đường. Hậu quả làm bà Ngô Thị H tử vong.
Bị cáo T tham gia giao thông đường bộ có Giấy phép lái xe hạng A1, đã vi phạm khoản 01 điều 11, khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ; Điểm b khoản 7 điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ; Khoản 1, 6 điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G gây thiệt hại làm chết người. Do đó Bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận Bị cáo Vi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Cáo trạng số 50/CT-VKSTX ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Vi Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng.
[4]. Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nhưng vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, làm chết người. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của Bị cáo thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có Tiền án, Tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo đều thành khẩn khai báo nên Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được một phần nhỏ thiệt hại nên Bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt: HĐXX xét thấy: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên cần thiết phải bắt Bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[7]. Về phần dân sự: Đại diện gia đình Bị hại yêu cầu Bị cáo phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền 426.410.000đ.
HĐXX xét thấy: Bị cáo đã điều khiển xe mô tô đâm va vào bà Ngô Thị H gây thiệt hại về tính mạng của bà H. Do đó HĐXX buộc Bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng theo quy định tại điều 591 Bộ luật Dân sự.
Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của Đại diện gia đình Bị hại thì HĐXX thấy rằng:
Đối với yêu cầu về số tiền Mai táng phí 126.410.000₫ là quá cao. Theo Bảng kê chi tiết có những khoản không hợp lý, không phù hợp quy định pháp luật nên không được chấp nhận. HĐXX căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 591 Bộ luật Dân sự chấp nhận chi phí hợp lý cho việc mai táng phí với số tiền là 40.000.000đ.
Đối với yêu cầu về Tổn thất tinh thần theo mức 100 tháng lương cơ sở = 180.000.000đ là phù hợp theo quy định tại khoản 2 điều 591 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận;
Đối với yêu cầu về Chi phí cấp dưỡng cho con đẻ của bà Lê Thị H2 là anh Lê Trung D2 với mức 500.000đ/tháng trong 20 năm là 120.000.000đ thì HĐXX thấy rằng: Anh Lê Trung D2 là con trai của bà Ngô Thị H bị khuyết tật theo dạng khuyết tật: Vận động, tâm thần; Mức độ khuyết tật nặng theo Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu: 383951555000010. HĐXX căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 591 Bộ luật Dân sự chấp nhận mức cấp dưỡng là 500.000đ/tháng. Tuy nhiên HĐXX không chấp nhận phương thức cấp dưỡng một lần trong 20 năm theo yêu cầu của đại diện gia đình Bị hại. HĐXX chấp nhận theo phương thức cấp dưỡng hàng tháng kể từ tháng 02/2024(Khi bà H chết) cho đến khi anh Lê Trung D2 chết. Vì vậy buộc Bị cáo phải cấp dưỡng cho anh Lê Trung D2 mỗi tháng 500.000đ kể từ tháng 02/2024 cho đến khi anh Lê Trung D2 chết.
Vì vậy HĐXX căn cứ điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 591; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Buộc Bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho gia đình Bị hại gồm: Chi phí hợp lý cho việc mai táng phí số tiền là 40.000.000đ; Tổn thất tinh thần theo mức 100 tháng lương cơ sở = 180.000.000đ. Tổng = 220.000.000đ; Tiền cấp dưỡng cho anh Lê Trung D2 là 500.000đ/tháng kể từ tháng 02/2024 cho đến khi anh Lê Trung D2 chết. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 24.000.000đ bồi thường thiệt hại tại Chi cục Thi hành án Dân sự nên số tiền còn lại 196.000.000đ buộc Bị cáo tiếp tục bồi thường.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 15(Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; Không phạt bổ sung đối với Bị cáo;
- Về Dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 591; Điều 357 Bộ luật Dân sự;
Buộc Bị cáo Vi Văn T phải bồi thường thiệt hại cho cho gia đình Bị hại gồm: Chi phí hợp lý cho việc mai táng phí số tiền là 40.000.000đ; Tổn thất tinh thần theo mức 100 tháng lương cơ sở = 180.000.000đ. Tổng = 220.000.000đ; Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 24.000.000đ tại Chi cục Thi hành án Dân sự nên số tiền còn lại là 196.000.000đ; T4 cấp dưỡng hàng tháng cho anh Lê Trung D2 là 500.000đ/tháng kể từ tháng 02/2024 cho đến khi anh Lê Trung D2 chết.
Đại diện hợp pháp của gia đình B1 hại là anh Lê Trung K, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn H xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, được nhận số tiền 24.000.000₫ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân theo Biên lai thu tiền số 0002293 ngày 24/6/2024.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác .
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
- Về án phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;
Buộc bị cáo Vi Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST; 300.000đ án phí cấp dưỡng và án phí DSST là 9.800.000, tổng cộng 10.300.000đ.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, Đại diện hợp pháp của Bị hại có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Thuỵ gây tai nạn giao thông
