|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 12 - 11 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Tôn
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nông Văn Nguyên;
- Bà Lãnh Thị Mai;
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Văn H, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1993. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: C, K, B, Cao Bằng; Nghề nghiệp: không nghề; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị P; Vợ: Chu Thị H1; Con: Bị cáo có 01 con;
Tiền án: không
Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 07/3/2024 bị Công an huyện B, Cao Bằng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện B, Cao Bằng cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại:
- Lý Văn C; sinh năm: 1967 (đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị P theo văn bản ủy quyền ngày 23/8/2024)
- Nguyễn Thị P; sinh năm: 1967
Cùng hộ khẩu thường trú: Cốc Pục, K, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Lý Hải H2; sinh năm: 1989
Hộ khẩu thường trú: xóm N, xã C, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chu Thị H1; sinh năm: 1995
Hộ khẩu thường trú: xóm C, xã K, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)
- Cô Văn H3; sinh năm: 1968
Hộ khẩu thường trú: xóm N, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)
- Lô Hải H4; sinh năm: 1995
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Cháng A H5; sinh năm: 1987
Hộ khẩu thường trú: xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người làm chứng: Long Thị V; sinh năm: 1956
Hộ khẩu thường trú: xóm C, xã K, huyện B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2024 lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Lý Văn H đã có hành vi lấy chiếc xe máy Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-026.33 của anh Lý Hải H2 (trú tại N, Cô B, B) đang để tại nhà của của ông Lý Văn C tại C, K, B. Sau khi lấy được xe H mang đi cầm cố với Cô Văn H3 được số tiền 1.500.000đ. Sau khi biết H mang xe đi cầm cố với H3 nên H2 đã mang tiền đi trả cho H3 và lấy xe về, được khoảng 01 tuần sau thì H2 đã bán chiếc xe trên cho một người lạ không rõ tên tuổi, địa chỉ, trước khi đến cơ quan Công an trình báo. Mở rộng điều tra xác định được H còn mang 01 chiếc đầu nổ máy cày là tài sản chung của vợ chồng H mang đi bán cho L Hải Huấn trú tại Tổ dân phố D, thị trấn B sau đó H4 bán lại cho Cháng A H5 trú tại T, B. Khoảng 01 tuần sau H tiếp tục mang 01 thân máy cày, 02 phay đất bằng kim loại, 02 bánh lồng bằng kim loại là tài sản của ông C và vợ là Nguyễn Thị P, bán cho Đỗ Thị Hải Y trú tại Tổ dân phố E, thị trấn B được số tiền 400.000đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-026.33 đã qua sử dụng, có trị giá là 3.800.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận 01 thân máy cày, 02 phay đất bằng kim loại, 02 bánh lồng bằng kim loại đã qua sử dụng, có trị giá là 4.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Lý Văn H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến người bị hại Lý Hải H2: về tình tiết nội dung vụ án tôi đã khai báo đầy đủ, tôi không thay đổi lời khai. Quá trình điều tra tôi có yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 1.500.000đồng mà tôi bỏ ra để chuộc xe, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay tôi không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nữa, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Văn H về tội: "Trộm cắp tài sản".
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn H từ 12 đến 15 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng và án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng giữa tháng 4/2024 lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Lý Văn H đã có hành vi lấy chiếc xe máy Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-026.33 của anh Lý Hải H2 (trú tại N, Cô Ba, B) có giá trị là 3.800.000đồng. Mở rộng điều tra xác định được H còn chiếm đoạt 01 thân máy cày, 02 phay đất bằng kim loại, 02 bánh lồng bằng kim loại trị giá 4.000.000đồng là tài sản của ông C và vợ là Nguyễn Thị P mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản mà H chiếm đoạt là 7.800.000đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với tang vật vụ án cũng như Kết luận định giá. Hành vi của bị cáo gây ra đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm. Hành vi trên đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, có sức khỏe nhưng không chịu tu chí làm ăn, mà ham chơi đua đòi, sa vào con đường nghiện ngập. Khi bản thân không có tiền tiêu xài, và chủ sở hữu tài sản sơ hở trong quản lý tài sản bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo (điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự)
- Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên (điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự);
[4]. Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa anh Lý Hải H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.500.000đồng là tiền anh H2 đã bỏ ra để chuộc lại chiếc xe máy mà bị cáo chiếm đoạt và bán cho Cô Văn H3, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Lô Hải H4 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã mua chiếc đầu nổ với bị cáo với số tiền là 1.500.000đ, nếu anh C1 A H5 yêu cầu anh hoàn trả số tiền 1.800.000đ. Tuy nhiên tại phiên tòa anh H5 yêu cầu được lấy lại chiếc đầu nổ đã mua và sẽ không yêu cầu hoàn trả đối với số tiền 1.800.000đồng và được bị cáo H nhất trí, do đó Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[5]. Về hướng xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe máy Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-033.24 số khung RLHJC5263DY210514, số máy JC52E-1257442, xe không có gương chiếu hậu, không có nắp hộp xích. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định được chiếc xe máy là tài sản chung của bị cáo H và vợ là Chu Thị H1 mua từ năm 2014, tiền dùng để mua xe là tiền mừng cưới của hai vợ chồng. Do đó, xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng, khi bị cáo lấy xe đi chị H1 không biết, nên cần tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy để phát mại sung quỹ Nhà nước. Hoàn trả lại ½ giá trị chiếc xe máy cho chị Chu Thị H1 là có căn cứ.
- Đối với 01 đầu nổ máy cày, loại máy 8 phần vỏ nắp trên và bình dầu có màu sơn đỏ, tem dán dòng chữ “CHINA CF DIESEL” máy đã qua sử dụng. Xác định, chiếc đầu nổ này là một bộ phận của chiếc máy cày được ông Lý Văn C và bà Nguyễn Thị P mua từ năm 2015, năm 2020 ông C, bà P đã bán chiếc đầu nổ cho ông Mê L1 C2 là người cùng xóm, một thời gian sau, bị cáo và vợ đã dùng tiền chung của hai vợ chồng để mua lại từ ông C2 về để sử dụng, nên đây là tài sản chung của hai vợ chồng, quá trình điều tra chị H1 không có yêu cầu gì đối với chiếc đầu nổ mà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, chị H1 không yêu cầu xử lý đối với bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa anh H5 yêu cầu được lấy lại chiếc đầu nổ đã mua và sẽ không yêu cầu hoàn trả đối với số tiền 1.800.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo H nhất trí với yêu cầu anh H5, xét thấy thỏa thuận giữa bị cáo và anh H5 là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được chấp nhận. Giao chiếc đầu nổ cho anh H5 quản lý và sử dụng là có căn cứ.
- Đối với chiếc xe máy Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-026.33 mà bị cáo chiếm đoạt của anh H2, sau đó bán cho Cô Văn H3, đã được anh Lý Hải H2 (là anh trai ruột của bị cáo) dùng tiền cá nhân để chuộc lại, sau đó H2 đã bán cho một người không quen biết, Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được nên không xem xét là có căn cứ.
- Đối với 01 thân máy cày, 02 phay đất bằng kim loại, 02 bánh lồng bằng kim loại, là tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông C và bà P có giá trị 4.000.000đồng, quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng, quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt bà P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.
[6].Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
- Về tội danh: Bị cáo Lý Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lý Văn H 14 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại cho anh Cháng A H5 01 đầu nổ máy cày, loại máy 8 phần vỏ nắp trên và bình dầu có màu sơn đỏ, tem dán dòng chữ “CHINA CF DIESEL” máy đã qua sử dụng.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-033.24 số khung RLHJC5263DY210514, số máy JC52E-1257442, xe không có gương chiếu hậu, không có nắp hộp xích.
- Trả lại cho chị Chu Thị H1 ½ giá trị chiếc xe máy Honda Wave RS biển kiểm soát 11L1-033.24 số khung RLHJC5263DY210514, số máy JC52E-1257442.
Toàn bộ số vật chứng đã được giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 04 ngày 21/10/2024.
- Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lý Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà Nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Nông Văn Tôn |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn H - Trộm cắp tài sản
