Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập–Tự do–Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/ HS-ST

Ngày: 06-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng

-Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phương Thanh - Nguyên Trưởng ban dân vận – Chủ tịch Mặt trận tổ quốc huyện Long Hồ.
  2. Ông Trần Thanh Hiếu – Hiệu trưởng trường THCS Lộc Hòa.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Dương Vũ Trường Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 40/ 2024/ TLST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2024/HSST-QĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2024, đối với:

-Bị cáo:

  1. Dư Đăng K, sinh ngày 17/01/2002. Tại: Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dư Văn Bé S, sinh năm: 1968 và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1961; Anh chị em ruột: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Về nhân thân: Ngày 27/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xử phạt 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Trộm cấp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  1. Nguyễn Quốc T, sinh ngày 22/10/2000. Tại: Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc B, sinh năm: 1976 và bà Đinh Thị M, sinh năm: 1969; Anh chị em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm: 1999, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  1. Dương Hoàng T1, sinh ngày 07/9/2007. Tại Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn N, sinh năm: 1981 và bà Lê Thị Hoàng O, sinh năm: 1981; Anh chị em ruột: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

-Đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Hoàng T1:

  1. Anh Dương Văn N, sinh năm: 1981 ( Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp Thanh Bình, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

  1. Chị Lê Thị Hoàng O, sinh năm: 1981 ( Có mặt).

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

-Người bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng T1 là Luật sư Mai Cẩm H1 – Văn phòng Luật sư Lê Thị H2 – Đoàn Luật sư tỉnh V. Địa chỉ: Số A, P, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long ( Có mặt).

  1. Trần Công B1, sinh ngày 26/10/2007. Tại Vĩnh Long. Tên gọi khác; không.

Nơi cư trú: Ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phú C, sinh năm: 1985 và bà Phạm Thị Tuyết L, sinh năm: 1983; Anh chị em ruột: 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

-Đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Công B1:

  1. Anh Trần Phú C, sinh năm: 1985 ( Xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Chị Phạm Thị Tuyết L, sinh năm: 1983 ( Có mặt)

Nơi cư trú: ấp D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

-Người bào chữa cho bị cáo Trần Công B1 là Luật sư Lê Thị H2 – Văn phòng Luật sư Lê Thị H2 – Đoàn Luật sư tỉnh V. Địa chỉ: Số A, P, phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long ( Có mặt).

  1. Nguyễn Hoàng B2, sinh ngày 21/4/2007. Tại Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1969 và bà Trần Thị Thu T2, sinh năm: 1978; Anh chị em ruột: 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

-Đại diện hợp pháp của của bị cáo Nguyễn Hoàng B2:

  1. Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1969 ( Có mặt).

Nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Chị Trần Thị Thu T2, sinh năm: 1978 ( Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

-Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng B2 là Luật sư Lê Anh C1– Văn phòng Luật sư Lê Anh C1 – Đoàn Luật sư tỉnh V. Địa chỉ: Số B, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

-Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm: 2001 ( Xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng 18 giờ ngày 26/01/2024, Dư Đăng K cùng Nguyễn Thị Ngọc G đến nhà Nguyễn Quốc T thuộc ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để uống rượu cùng với T và Dương Hoàng T1, Nguyễn Hoàng B2, Trần Công B1, Đỗ Ngọc B3, sinh ngày: 04/12/2008 và Nguyễn Cường T3, sinh ngày: 30/5/2008.

Trong lúc uống rượu, K kể mâu thuẩn giữa Gấm với chủ shop quần, áo Thùy Vương tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do chị Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 2001 làm chủ. Mọi người nghe K kể chị V thường hay “la, chửi” Gấm và chưa trả tiền làm thuê cho G, lúc này G đã lên võng trong nhà T ngủ không nghe biết.

Khi nghe K kể thì T hỏi K muốn phá shop đồ của chị V không thì T trả lời đồng ý. Sau đó, T lên tiếng rũ mọi người cùng đi đập phá đồ đạc dằn mặt chị V thì T1, B2, B1, B3, T3 đồng ý.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T lấy nhiều vỏ chai bia Sài G1 ở phía sau nhà của T bỏ vào bịch nylon đưa cho T1 và B1 cầm theo. Sau đó K dẫn đường cùng đi với T, T1, B2, B1, B3, T3 bằng 03 xe mô tô đến shop quần, áo Thùy Vương. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm dừng xe trước cửa shop quần, áo thì T hô to bảo với cả nhóm “chơi”. Lập tức T1 dùng 08 chai bia mang theo, B1 và T3 dùng 02 chai bia mang theo, B2 dùng 04 chai bia mang theo cùng chọi thẳng vào các cửa kính của shop quần, áo làm vỡ các tấm kính. Sau đó, cả nhóm đi về được một đoạn đường khoảng 01km thì T kêu T3 quay trở lại shop quần, áo để chọi, giật quần áo bên trong shop.

Lúc này, cả nhóm nghe thấy và biết nhưng chỉ có T, T3 quay lại theo yêu cầu của T còn lại mọi người trở về nhà của T đợi. Khi quay lại thì T ngồi trên xe, T3 xuống xe nhặt 03 cục đá ven đường chọi vào quần áo trưng bày, dùng tay giật quần, áo trên các kệ xuống đất và bỏ ra về.

Do shop quần, áo Thùy V không người trông giữ nên khi T cùng đồng bọn chọi phá tài sản thì chị V không biết. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, chị V đến shop quần, áo thì phát hiện nên trình báo sự việc với Công an yêu cầu xử lý theo quy định.

Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận 14,26m² kính thủy tinh kích thước 8milimet đã qua sử dụng trị giá 4.990.000 đồng.

Đối với hành vi của Đỗ Ngọc B3, Nguyễn Cường T3, tính đến ngày 26/01/2024 thì B3 và T3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo cùng với Đỗ Ngọc B3, Nguyễn Cường T3 thống nhất bồi thường theo yêu cầu bị hại với tổng số tiền 20.000.000 đồng, mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 2.860.000 đồng. Nhưng các bị cáo chỉ mới bồi thường được 16.300.000 đồng (trong đó T1, B2, B1, B3, T3 đã bồi thường được mỗi người 2.860.000 đồng; Khoa bồi thường 1.000.000 đồng; T bồi thường 1.000.000 đồng)

Cáo trạng số 40/CT-VKS.LH, ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long truy tố Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 về tội “ Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung các bị cáo. Các bị cáo hối hận về việc làm của mình và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “ Hủy hoại tài sản”.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Dư Đăng K mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Hoàng T1 mức án từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Công B1 mức án từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.

Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B2 mức án từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, các bị cáo chỉ mới bồi thường 16.300.000 đồng. Buộc bị cáo Dư Đăng K bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 1.860.000 đồng, buộc bị cáo Nguyễn Quốc T bồi thường tiếp cho bị hại 1.860.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Đề nghị căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T mỗi bị cáo nộp 300.000 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Công B1: Thống nhất với đề nghị luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178 điểm b,i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo Trần Công B1.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng T1: Thống nhất với đề nghị luận tội của Kiểm sát viên, tuy nhiên mức án 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ mà Viện kiểm sát đề nghị là nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo Dương Hoàng T1 được hưởng mức án 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 02 năm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng B2: Thống nhất với đề nghị luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Hoàng B2.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Ngày 26/01/2024, Dư Đăng K kể cho Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Nguyễn Hoàng B2, Trần Công B1, Đỗ Ngọc B3, Nguyễn Cường T3 nghe việc mâu thuẩn giữa Nguyễn Thị Ngọc G là bạn của K với chị Nguyễn Thị Thùy V. T nghe thấy và nảy sinh ý định phá shop quần áo của chị V. T rũ và được K, T1, B2, B1, B3, T3 đồng ý.

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, T cùng với K, T1, B2, B1, B3, T3 dùng vỏ chai bia chọi vào cửa kính shop quần, áo của chị Nguyễn Thị Thùy V tại ấp P, xã P, huyện L gây thiệt hại tài sản trị giá 4.990.000 đồng của chị V. Trong lúc thực hiện hành vi phạm tội thì Đỗ Ngọc B3, Nguyễn Cường T3 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của các bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 đã phạm vào tội “ Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là hoàn toàn đúng.

[3].Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, chỉ vì mâu thuẫn giữa chị G và bị hại không phải là chuyện của các bị cáo, nhưng sau khi nghe Khoa kể lại, các bị cáo lại thống nhất đến shop bán quần áo của bị hại dùng các vỏ chai bia, các cục đá ven đường chọi vào cửa kính của shop bán quần áo của bị hại, gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần phải có một hình phạt thích đáng để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có một mức án phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong vụ án có đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó:

Bị cáo Nguyễn Quốc T là người rủ rê các bị cáo khác và là người lấy nhiều vỏ chai bia mang theo đến shop bán quần áo của bị hại, chính bị cáo T cũng là người kêu các bị cao khác chọi các vỏ chai bia vào shop bán quần áo của bị hại. Sau khi trở về bị cáo T còn ngoan cố cùng với T3 quay trở lại nhặt các cục đá ven đường tiếp tục chọi vào shop bán quần áo của bị hại.

Các bị cáo khác như bị cáo Dư Đăng K, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 làm theo sự điều khiển của bị cáo T. Đối với bị cáo T1, bị cáo B1 và bị cáo B2 khi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, suy nghĩ chưa chín chắn, nghe theo sự rủ rê của bị cáo T và làm theo.

[4].Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Đối với các bị cáo T1, bị cáo B1, bị cáo B2 chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo T lại rủ rê các bị cáo phạm tội, do đó bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sự việc xảy ra các bị cáo cũng đã bồi thường phần trách nhiệm của mình cho người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Vào năm 2020 bị cáo K còn bị Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xử phạt 02 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “ Trộm cắp tài sản” cho thấy bị cáo có nhân thân không tốt, ý thức chấp hành pháp luật không cao.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có người làm thuê, có người không có nghề nghiệp, có bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi sống phụ thuộc gia đình, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Không

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Dư Đăng K bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 1.860.000 đồng; buộc bị cáo Nguyễn Quốc T bồi thường cho bị hại số tiền 2.860.000 đồng, bị cáo đã nộp 1.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000838 ngày 05/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ để bồi thường cho bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 1.860.000 đồng.

[8]. Về án phí: Các bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; riêng bị cáo Nguyễn Quốc T, bị cáo Dư Đăng K còn phải chị án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, tuy nhiên đề nghị cho các bị cáo Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ là nhẹ so với hành vi phạm tội của các bị cáo, mà phải cần cho các bị cáo thời gian thử thách để sửa đổi bản thân.

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 phạm tội “Hủy hoại tài sản”

-Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 ( Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

-Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Dư Đăng K 09 ( Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

-Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Dương Hoàng T1 09 ( Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 ( Một) năm 06 ( Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Hoàng T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

-Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Công B1 09 ( Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 ( Một) năm 06 ( Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Công B1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

-Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng B2 09 ( Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 ( Một) năm 06 ( Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng B2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Không

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Dư Đăng K bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 1.860.000 đồng ( Một triệu tám trăm sáu chục ngàn đồng), buộc bị cáo Nguyễn Quốc T bồi thường cho bị hại số tiền 2.860.000 đồng, bị cáo Nguyễn Quốc T đã nộp 1.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000838 ngày 05/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ để bồi thường cho bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Quốc T phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 1.860.000 đồng ( Một triệu tám trăm sáu chục ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T, Dương Hoàng T1, Trần Công B1, Nguyễn Hoàng B2 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Dư Đăng K, Nguyễn Quốc T mỗi bị cáo nộp 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hồ;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -Bị cáo, bị hại; đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • -UBND xã Tân Long-MT-VL;
  • -UBND xã Tân Long Hội-MT-VL;
  • -UBND xã Nhơn Phú-MT-VL;
  • -UBND xã Hậu Lộc-TB-VL;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/ HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự về tội hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 47/2024/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger