Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI CHÂU

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 20-8-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Bá Khiên và ông Lường Khắc Tiệp.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Cao - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn C, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2000, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Công S, sinh năm 1978 và bà Khà Thị H, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo có sử dụng nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay. Có mặt.
  2. Lường Văn S, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2000, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị X, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo có sử dụng nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Khà Thị H, sinh năm 1980, nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 02/4/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hòa Bình chủ trì phối hợp với Công an huyện Mai Châu và Công an xã Hang Kia làm nhiệm vụ tại xóm Thung Mặn, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phát hiện Hà Văn C, sinh năm 2000, nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát, chở theo sau là Lường Văn S, sinh năm 2000, là người cùng xóm. Tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, yêu cầu nếu có tàng trữ trái phép chất ma túy thì giao nộp, ngay sau đó Cường giao nộp 01 gói nilon màu đen bên trong có 02 gói nhỏ: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 gói nilon màu đen bên trong chứa 04 viên nén màu hồng. C và S khai nhận đó là ma túy cả hai góp tiền mua, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Tại Cơ quan điều tra Hà Văn C và Lường Văn S khai nhận về nguồn gốc số ma túy như sau: Tối ngày 02/4/2024, Hà Văn C rủ Lường Văn S góp tiền đi mua ma túy, mục đích là để sử dụng cho bản thân, S đồng ý. Sau đó, C góp 250.000 đồng, S góp 200.000 đồng đưa C, C cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát (qua điều tra xác minh chiếc mô tô trên có biển kiểm soát 28M1-127.xx là của Hà Văn C và C khai nhận là tháo ra cất ở nhà) chở S đi lên xã Hang Kia tìm mua ma túy. Đến khu vực xóm Thung Mặn, xã Hang Kia cả hai nhìn thấy một người đàn ông không quen biết ở ven đường, C dừng xe và đi bộ đến gần người đàn ông và hỏi mua ma túy với số tiền 450.000 đồng, còn S đợi ở xe cách vị trí C mua ma túy khoảng 10 mét. Người đàn ông trên nhận tiền và đưa lại cho C 01 gói ma túy, C nhận ma túy rồi cầm trên tay trái rồi điều khiển xe đi về theo hướng xã Cun Pheo. Đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Bản Kết luận giám định số: 181/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:

  • Chất bột dạng cục màu trắng trong gói ký hiệu G1 có khối lượng: 0,52 gam, là ma túy loại Heroine;
  • 04 viên nén màu hồng trong gói ký hiệu G2 có tổng khối lượng là 0,43 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản Cáo trạng số: 41/CT-VKSMC ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo Hà Văn C và Lường Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau.

Về tội danh, hình phạt:

  • Đề nghị tuyên bố bị cáo Hà Văn C và Lường Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn C từ 16 đến 20 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ.
  • Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn S từ 14 đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo là người sử dụng nghiện chất ma túy, không có khả năng thi hành, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • Đề nghị tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
  • Đối với 01 chiếc xe mô tô màu đen, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, khi bị thu giữ xe không gắn biển kiểm soát, quá trình điều tra bị cáo Hà Văn C khai nhận đã tháo biển kiểm soát của chiếc xe nêu trên để ở nhà bị cáo và tại phiếu trả lời xác minh xe của Công an huyện Mai Châu ngày 26/6/2024 thể hiện chiếc xe mô tô trên có biển kiểm soát là 28M1-127.xx chủ xe Hà Văn C. Chiếc xe mô tô này đang tạm giữ của Hà Văn C xét thấy các bị cáo có khai dùng chiếc xe đi mua chất ma túy, tuy nhiên bị cáo Hà Văn C cầm chất ma túy ở tay, hành vi của các bị cáo không cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, mà cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên xác định không dùng xe mô tô vào việc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hơn nữa chiếc xe này do mẹ đẻ của Hà Văn C là bà Khà Thị H, sinh năm 1980, nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện M, tỉnh Hòa Bình là người đã trực tiếp bỏ tiền của mình mua chiếc xe trên cho Cường đứng tên để làm phương tiện đi lại chung cho gia đình. Việc C và S sử dụng xe để đi mua ma túy bà H không biết và không liên quan, nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Về vấn đề khác:

  • Đối với người đàn ông mà các bị cáo khai đã bán ma túy cho các bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
  • Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử các bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, các bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do các bị cáo nghiện ma túy, tàng trữ để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo Hà Văn C có ý kiến chiếc xe mô tô bị tạm giữ là do mẹ bị cáo bỏ tiền của mình ra mua làm phương tiện đi lại của cả gia đình bị cáo, việc bị cáo dùng chiếc xe trên đi mua ma túy bà H không biết, không liên quan, bị cáo đề nghị được trả lại; ngoài ra chiếc xe mô tô khi bị tạm giữ không gắn biển kiểm soát do biển kiểm soát bị gẫy nên bị cáo C đã tháo biển kiểm soát của xe là 28M1-127.xx để ở nhà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Khà Thị H có ý kiến: Ngày 02/4/2024, bị cáo Hà Văn C đã tự ý lấy chiếc xe mô tô màu đen, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, biển kiểm soát 28M1-127.xx đi đâu, làm gì bà H không biết, việc Hà Văn C và Lường Văn S đã dùng chiếc xe trên để đi tìm mua ma túy, bà H không liên quan. Nguồn gốc chiếc xe tuy đứng tên Hà Văn C nhưng là xe chung

của gia đình là do bà H mua vào năm 2021 từ tiền tích góp của bà. Hiện nay chiếc xe trên vẫn đang bị Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thu giữ, bà Hợp đề nghị trả lại chiếc xe mô tô trên cho gia đình bà để làm phương tiện đi lại chung của cả gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Những chứng cứ xác định có tội: Các bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Hà Văn C và Lường Văn S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại xóm Thung Mặn, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, tổ công tác Công an tỉnh Hòa Bình chủ trì phối hợp Công an huyện Mai Châu và Công an xã Hang Kia bắt quả tang Hà Văn C đang tàng trữ 0,52 gam ma túy, loại Heroine và 0,43 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng hai chất ma túy mà C tàng trữ là 0,95 gam. Kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do C và S cùng nhau góp tiền mua về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích gì khác. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định Hà Văn C và Lường Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và cả hai bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số ma túy trên.
  2. Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
  3. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Các bị cáo vì nghiện chất ma túy, tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy. Trong vụ án này giữa hai bị cáo không có sự câu kết, bàn bạc, phân công cụ thể, các bị cáo chỉ rủ nhau cùng đi tìm mua ma túy về để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác nên chỉ là đồng phạm giản đơn, không phải là phạm tội có tổ chức.

    Trong vụ án này, Hà Văn C là người rủ, chở Lường Văn S đi tìm mua ma túy và C cũng là người trực tiếp đưa tiền và nhận ma túy từ người đàn ông đã bán ma túy cho hai bị cáo, sau khi mua được ma túy C cũng là người trực tiếp cầm, tàng trữ. Đối với Lường Văn S khi được rủ đi mua ma túy về sử dụng S đã đồng ý ngay và cũng là người góp tiền chung với C để mua ma túy.

  4. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  1. Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, vai trò của từng bị cáo, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, không có tiền án, tiền sự, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của từng bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với từng bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  2. Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
  3. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  4. Về án phí: Bị cáo Hà Văn C và Lường Văn S phải nộp án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh, hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Hà Văn C và Lường Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    • Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn C 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/4/2024.
    • Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn S 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/4/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

    • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 01 phong bì.
  • Trả lại cho bị cáo Hà Văn C 01 chiếc xe mô tô màu đen, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER (xe không gắn biển kiểm soát khi bị thu giữ).

(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 51/THA ngày 02/8/2024 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

  1. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    • Bị cáo Hà Văn C, Lường Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND; VKSND tỉnh HB;
  • - Sở Tư pháp tỉnh HB;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh HB;
  • - VKSND huyện MC;
  • - Cơ quan THAHS CAMC;
  • - Cơ quan điều tra CAMC;
  • - THA hình sự; Chi cục THA dân sự;
  • - UBND xã Mai Hạ, huyện Mai Châu;
  • - Người tham gia TT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Phạm Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HOÀ BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn C bị xử phạt 17 tháng tù giam, Lường Văn S bị xử phạt 16 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger