TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST Ngày: 18-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và bà Ngô Thị Mỹ Lợi.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bà Lê Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thanh K
sinh năm: 2000, tại Đồng Tháp; tên gọi khác: T; nơi cư trú: Số H, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh L và bà Đặng Thị T; vợ: chưa có - Từng chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 2000 (không đăng ký kết hôn, có 02 con chung, hiện không còn chung sống) và Phạm Huỳnh N, sinh năm 2004 (không đăng ký kết hôn, có 01 con chung, hiện không còn chung sống); tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: không; tạm giam: ngày 01/3/2024; bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Em Lê Gia B, sinh năm 2007 (vắng mặt).
Người đại diện: Chị Lê Mộng H1, sinh năm 1979, là mẹ ruột (vắng mặt).
HKTT: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đ.
Nơi ở hiện nay: Nhà trọ K, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của em Lê Gia B:
Luật sư Nguyễn Duy K1 - Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Anh Lê Minh S, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Số A đường L, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Anh Phạm Minh Đ, sinh năm 1980.
Nơi cư trú: Số H đường T, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Anh Hồ Thanh T1, sinh năm 1991 (vắng mặt).
và Chị Lê Mỹ X, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Số G, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Em Dương Quốc C, sinh năm 2008 (vắng mặt).
Người đại diện: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1953 (vắng mặt).
HKTT: Số B đường T, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Nơi ở hiện nay: Nhà trọ K, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
- Ông Mai Văn T3, sinh năm 1957.
Nơi cư trú: Số A đường L, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (có mặt).
- Anh Trần Quốc T4, sinh năm 1994.
Nơi cư trú: Số A, Khóm A, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Anh Châu Thành N1, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Số C đường T, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Ông Phan Văn Đ1, sinh năm 1958.
Nơi cư trú: Số C đường H, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Chị Đặng Thị T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
và Anh Trần Thanh L, sinh năm 1974 (vắng mặt).
và Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Số H, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
- Chị Thái Thị Ngọc H2, sinh năm 1980.
HKTT: Số D, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Chị Phạm Mỹ L1, sinh năm 1971.
Nơi cư trú: Số H, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (vắng mặt).
- Anh Phan Trường S1, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Số B, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ (có mặt).
- Chị Lê Thụy Khánh V, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: Số A đường H, Phường A, thành phố V, tỉnh V (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023, Trần Thanh K mượn, thuê 04 xe mô tô các loại của các bị hại làm phương tiện sử dụng. Sau đó, K mang các xe mô tô này đi thế chấp cho người khác để vay tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:
Vụ 1:
Vào ngày 18/7/2023, Khiết thuê của ông Phạm Minh Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36 với giá thuê 100.000 đồng/ngày, không làm hợp đồng thuê, không thỏa thuận thời hạn thuê. Khoảng 05 ngày sau K tiếp tục thuê của ông Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 dùm cho một người bạn tên T5 (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) sử dụng làm phương tiện đi lại với giá thuê 200.000 đồng/ngày, cũng không làm hợp đồng thuê, không thỏa thuận thời hạn thuê. Sau khi thuê được xe K và T5 trả tiền thuê 02 xe hàng ngày cho ông Đ được khoảng 01 tháng.
Đến khoảng tháng 8/2023, K mang xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36 đến thế chấp cho ông Trần Quốc T4 để vay số tiền 7.000.000 đồng, không làm hợp đồng vay, không thỏa thuận lãi suất vay, thời hạn vay và K tiêu xài hết số tiền này.
Khoảng thời gian sau, T5 nhờ K mang xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 thuê của ông Đ đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 vay 7.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, không làm hợp đồng. Đến ngày 18/10/2023, K trả tiền vay cho ông T3 và lấy lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 mang trả cho ông Đ, đồng thời thông báo cho ông Đ biết việc K đã mang xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36 thuê của ông Đ thế chấp để vay tiền của ông T4 và đã tiêu xài hết, hiện không có tiền chuộc lại. Ông Đ không đồng ý nên yêu cầu K chuộc xe để trả lại cho ông Đ, nhưng K không đồng ý và kêu ông Đ tự chuộc lại xe. Sau đó, do không liên lạc được với K nên ông Đ đến Công an P, thành phố S trình báo.
Vụ 2:
Vào ngày 15/9/2023, Khiết thuê của ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỷ X (vợ ông T1) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 150, màu xanh đen, biển số 66V1-571.76 với giá thuê 200.000 đồng/ngày, thời hạn thuê 15 ngày (từ ngày 15/9/2023 đến ngày 30/9/2023), có lập hợp đồng thuê. Sau khi thuê K chỉ trả tiền thuê xe 01 ngày số tiền 200.000 đồng cho ông T1.
Đến khoảng cuối tháng 09/2023, K mang xe mô tô này đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 để vay số tiền 12.000.000 đồng lãi suất 3%/tháng, không làm hợp đồng vay, không thỏa thuận thời hạn vay. Sau khi vay, K tiêu xài hết số tiền đã vay và không trả lãi cho ông T3. Đến ngày 30/9/2023, do hết thời hạn thuê xe theo thỏa thuận, ông T1 không liên lạc được với K, qua kiểm tra định vị ông T1 phát hiện xe mô tô đang bị K thế chấp vay tiền của ông T3 nên ông T1 đến Công an xã H, huyện L trình báo.
Vụ 3:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 13/10/2023, K đến phòng số 01 Nhà T gặp Lê Gia B hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển số 47C1-025.36 của Dương Quốc C để đi ăn hủ tiếu. Lúc này, C không có ở trong phòng, nên B đồng ý cho K mượn xe, B nhắn tin báo cho C biết, C đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi đi ăn hủ tiếu với một người bạn tên T5 (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) trên đường về thì K nhận được điện thoại của 01 người phụ nữ tên L2 (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) đòi nợ số tiền 1.700.000₫ mà K đã mượn trước đó. Do không có tiền trả cho L2, K mang xe mô tô biển số 47C1-025.36 đến thế chấp cho ông Châu Thành N1 để vay số tiền 2.500.000 đồng, nhưng không làm hợp đồng vay, không thỏa thuận thời hạn, lãi suất vay. Sau khi nhận tiền vay, K đưa trước cho N1 300.000 đồng tiền tiền lãi.
Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 14/10/2023, K và T5 trở về nhà trọ Kim T6, K nói dối với C và B là xe mô tô B cho K mượn đã bị Cảnh sát giao thông bắt giữ tại khu vực Công viên S, đồng thời Khiết hẹn đến ngày 16/10/2023 sẽ mang tiền đóng phạt và lấy xe mang về trả cho C. Sau đó, K lấy số tiền thế chấp xe mô tô biển số 47C1-025.36 trả 1.700.000đ tiền nợ cho bà L2, số tiền còn lại Khiết tiêu xài và chơi game hết.
Ngày 15/10/2023, K đến gặp ông N1 xin tiếp tục hỏi vay thêm 500.000đ, ông N1 đồng ý và đưa cho K thêm 500.000đ, số tiền này K cũng đã tiêu xài hết. Đến ngày 16/10/2023, K tiếp tục nói dối với C và B là chưa có tiền đóng phạt và hẹn đến ngày 18/10/2023 sẽ đóng phạt và mang xe về trả cho C. Sau đó, K tránh mặt C và B, đến ngày 18/10/2023 do không liên lạc được với K, nên C đến Công an P1, thành phố S trình báo.
Vụ 4:
Vào ngày 14/10/2023, Khiết thuê của ông Lê Minh S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu xám, biển số 66L1-674.48 làm phương tiện đi lại với giá thuê 200.000 đồng/ngày, không làm hợp đồng thuê, không thỏa thuận thời hạn thuê. Sau khi thuê, K sử dụng xe đến ngày 16/10/2023, K mang xe mô tô thuê của ông S đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 để vay số tiền 12.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, không làm hợp đồng, thời hạn vay. Sau khi thuê K trả tiền thuê xe hàng ngày đầy đủ cho ông S và tiêu xài hết số tiền đã vay, nhưng không trả tiền lãi cho ông T3. Cùng thời điểm này, ông S phát hiện K đã mang xe đi thế chấp vay tiền nên lập lại Hợp đồng thuê xe bằng văn bản, ghi ngày 14/10/2023, thời hạn thuê 15 ngày và yêu cầu K ký vào hợp đồng, đồng thời ông S yêu cầu K phải chuộc lại xe để trả lại cho ông S, K đồng ý và cam kết thực hiện theo yêu cầu của ông S. Đến ngày 30/10/2023, K không tiếp tục trả tiền thuê xe và cũng không chuộc lại xe để trả cho ông S. Do không liên lạc được với K, nên ông S đến Công an phường A, thành phố S trình báo.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ vật chứng gồm:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển số 47C1-025.36, số máy 5C640594435, số khung C640BY594431, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng (xe của Dương Quốc C giao cho Lê Gia B quản lý, do Huỳnh Thị Hồng D đứng tên giấy đăng ký xe).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu xám, biển số 66L1-674.48, số máy KF41E1635500, số khung MH1KF4118kk635.023, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng (xe của ông Lê Minh S, do Lưu Thị Mỹ D1 đứng tên giấy đăng ký xe).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 150, màu xanh đen, biển số 66V1-571.76, số máy KF41E1188098, số khung MH1KF4116JK187606, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng (xe của ông Hồ Minh T7 và bà Lê Mỹ X, do Lê Mỹ X đứng tên giấy đăng ký xe).
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36 của ông Phạm Minh Đ, qua xác minh ông Trần Quốc T4 xác định vào khoảng tháng 7/2023 K có mang 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36 đến thế chấp cho ông T4 để mượn số tiền 7.000.000 đồng (không làm biên nhận mượn tiền, chỉ thỏa thuận miệng, thỏa thuận thời hạn mượn tiền là 01 ngày). Đến khoảng 10 ngày sau, K mang số tiền 7.000.000 đồng trả cho ông T4 và lấy lại xe. Tuy nhiên, qua tiến hành đối chất với ông T4 thì K vẫn khẳng định xe mô tô nói trên hiện ông T4 đang quản lý, K chưa lấy lại xe. Do đó, hiện xe chưa thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định truy tìm xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36, nhưng đến nay chưa tìm được.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2023 và số 22/KL-HĐĐGTS ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố S, số 65/KL-ĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển số 47C1-025.36, đã qua sử dụng, tài sản đã thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 13/10/2023 có giá trị là 6.666.667 đồng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 150, màu xám, biển số 66L1-674.48, đã qua sử dụng, tài sản đã thu hồi được. Thời điểm định giá ngày 14/10/2023 có giá trị là 32.666.667 đồng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36, đã qua sử dụng. Thời điểm định giá ngày 18/7/2023 có giá trị là 18.000.000 đồng.
- 01 xe mô tô biển số 66V1-571.76, nhãn hiệu Honda, màu xanh đen, số loại Vario 150, loại xe 02 bánh, SK: MH1KF4116JK187606, SM: KF41E1188098 là 35.700.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 93.033.334 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển số 47C1-025.36, số máy 5C640594435, số khung C640BY594431, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng (xe của Dương Quốc C giao cho Lê Gia B quản lý, do Huỳnh Thị Hồng D đứng tên giấy đăng ký xe); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu xám, biển số 66L1-674.48, số máy KF41E1635500, số khung MH1KF4118kk635.023, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng (xe của ông Lê Minh S, do Lưu Thị Mỹ D1 đứng tên giấy đăng ký xe); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 150, màu xanh đen, biển số 66V1-571.76, số máy KF41E1188098, số khung MH1KF4116JK187606, đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng (xe của ông Hồ Minh T7 và bà Lê Mỹ X, do Lê Mỹ X đứng tên giấy đăng ký xe), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã hoàn trả xe cho Lê Gia B, Lê Minh S, Hồ Minh T7 nhận lại xong.
Về trách nhiệm dân sự:
- Lê Gia B, Dương Quốc C đã nhận lại xe mô tô biển số 47C1-025.36, không có yêu cầu gì.
- Ông Lê Minh S đã nhận lại xe mô tô biển số biển số 66L1-674.48, không yêu cầu Khiết trả tiền thuê xe còn lại và không có yêu cầu gì khác.
- Ông Phạm Minh Đ yêu cầu Trần Thanh K bồi thường giá trị xe mô tô biển số 66H1-163.36 không thu hồi được là 18.000.000 đồng; không yêu cầu K trả tiền thuê xe còn lại.
- Ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X đã nhận lại xe mô tô biển số 66V1-571.76, yêu cầu Trần Thanh K trả tiền thuê xe còn lại: 14 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.800.000 đồng.
- Đối với ông Châu Thành N1 cho Trần Thanh K vay 3.000.000 đồng và có nhận thế chấp xe mô tô biển số 47C1-025.36. Nay, xe mô tô đã bị thu hồi và hoàn trả cho bị hại Lê Gia B nên ông N1 yêu cầu K trả lại cho ông số tiền vay 3.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
- Đối với ông Mai Văn T3 cho Trần Thanh K vay 02 lần, tổng số tiền 24.000.000 đồng và có nhận thế chấp 02 xe mô tô biển số 66L1-674.48 và biển số 66V1-571.76. Nay 02 xe mô tô đã bị thu hồi và hoàn trả cho các bị hại Lê Minh S, Hồ Thanh T1 nên ông T3 yêu cầu K trả lại cho ông số tiền vay 24.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
Trần Thanh K đồng ý bồi thường giá trị xe không thu hồi được và hoàn trả tiền thuê xe, tiền vay cho ông Phạm Minh Đ, ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X, ông Châu Thành N1, ông Mai Văn T3 theo yêu cầu nhưng chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSTPSĐ, ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đã truy tố Trần Thanh K ra trước Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, để xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, với mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa Trần Thanh K và ông Phạm Minh Đ, ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X, ông Châu Thành N1, ông Mai Văn T3:
Trần Thanh K bồi thường cho ông Phạm Văn Đ2 18.000.000 đồng; trả tiền thuê xe còn lại cho ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X: 14 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.800.000 đồng; trả lại cho ông Châu Thành N1 số tiền vốn vay 3.000.000 đồng, ông Mai Văn Thông s tiền vốn vay 24.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Đối với hành vi Trần Thanh K thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 của ông Phạm Minh Đ, sau đó mang xe trên đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 vay số tiền 7.000.000 đồng giùm cho người thanh niên tên T5 (không xác định được họ tên, địa chỉ). Xét thấy, sau khi thế chấp, K đã đến chuộc lại xe và mang trả cho ông Đ, do đó không xem xét xử lý Khiết đối với lần thực hiện hành vi này.
Đối với các ông Châu Thành N1, Mai Văn T3, Trần Quốc T4 có nhận thế chấp xe mô tô của K để cho vay tiền, tuy nhiên khi cho vay và nhận thế chấp ông N1, ông T3, ông T4 không biết các xe mô tô trên do Trần Thanh K phạm tội mà có nên không xem xét xử lý đối với ông N1, ông T3, ông T4.
Đối với người thanh niên tên T5 có hành vi nhờ Khiết thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 của ông Phạm Minh Đ, sau một thời gian sử dụng, T5 tiếp tục nhờ K mang đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 vay số tiền 7.000.000 đồng đưa cho T5 tiêu xài hết. Hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ của T5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiếp tục truy tìm để xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn T3 giữ nguyên yêu cầu: Yêu cầu bị cáo trả số tiền vay 24.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng từ tháng 7/2023 đến tháng 10/2023, tại địa bàn thành phố S và huyện L, tỉnh Đồng Tháp, Trần Thanh K đã có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển số 47C1-025.36, trị giá 6.666.667 đồng của Lê Gia B và thuê 03 xe mô tô các loại gồm: xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu xanh, biển số 66H1-163.36, trị giá 18.000.000 đồng của ông Phạm Minh Đ; xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 150, màu xanh đen, biển số 66V1-571.76, trị giá 35.700.000 đồng của ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X; xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu xám, biển số 66L1-674.48, trị giá 32.666.667 đồng của ông Lê Minh S để làm phương tiện sử dụng. Sau đó, do không có tiền tiêu xài, K mang các xe mô tô này đi thế chấp cho người khác để vay tiền tiêu xài cá nhân dẫn đến không có khả năng trả nợ, chuộc lại xe hoàn trả cho các bị hại. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 93.033.334 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự.
Tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm :
a)...
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
...”.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác và thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi sau khi mượn, thuê được tài sản của các bị hại một cách hợp pháp rồi đem tài sản thế chấp cho người khác để vay tiền tiêu xài cá nhân, không có khả năng trả nợ để chuộc lại xe hoàn trả cho các bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi; tổng trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt 93.033.334 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên, cùng phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo; nhằm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo được cải tạo, giáo dục trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
[4]. Đối với hành vi Trần Thanh K thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 của ông Phạm Minh Đ, sau đó mang xe trên đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 vay số tiền 7.000.000 đồng giùm cho người thanh niên tên T5 (không xác định được họ tên, địa chỉ). Tuy nhiên, K đã đến chuộc lại xe và mang trả cho ông Đ nên không xem xét xử lý về hành vi này của K.
[5]. Đối với các ông Châu Thành N1, Mai Văn T3, Trần Quốc T4 có nhận thế chấp xe mô tô của K để cho vay tiền, tuy nhiên khi cho vay và nhận thế chấp ông N1, ông T3, ông T4 không biết các xe mô tô trên do Trần Thanh K phạm tội mà có nên không xem xét xử lý đối với ông N1, ông T3, ông T4.
[6]. Đối với người thanh niên tên T5 có hành vi nhờ Khiết thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter 150, biển số 66S1-310.63 của ông Phạm Minh Đ, sau một thời gian sử dụng, T5 tiếp tục nhờ K mang đến thế chấp cho ông Mai Văn T3 vay số tiền 7.000.000 đồng đưa cho T5 tiêu xài hết. Hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ của T5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiếp tục truy tìm để xác minh, làm rõ, xử lý sau.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
- Lê Gia B, Dương Quốc C đã nhận lại xe xong, không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
- Ông Lê Minh S đã nhận lại xe xong, không yêu cầu K trả tiền thuê xe còn lại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.
- Ông Phạm Minh Đ yêu cầu Trần Thanh K bồi thường giá trị xe mô tô biển số 66H1-163.36 không thu hồi được là 18.000.000 đồng; không yêu cầu K trả tiền thuê xe còn lại.
- Ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X đã nhận lại xe, yêu cầu Trần Thanh K trả tiền thuê xe còn lại: 14 ngày x 200.000 đồng/ngày = 2.800.000 đồng.
- Đối với ông Châu Thành N1 yêu cầu Trần Thanh K trả số tiền vay 3.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
- Đối với ông Mai Văn T3 yêu cầu Trần Thanh K trả số tiền vay 02 lần, tổng cộng 24.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
Trần Thanh K đồng ý bồi thường giá trị xe không thu hồi được và hoàn trả tiền thuê xe, tiền vay cho ông Phạm Minh Đ, ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X, ông Châu Thành N1, ông Mai Văn T3. Xét thấy, đây là sự tự nguyện giữa các bên, không trái quy định của pháp luật nên ghi nhận.
[8]. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
[9]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh K mức án 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 01/3/2024).
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận giữa các bên :
Bị cáo Trần Thanh K có nghĩa vụ:
- Bồi thường thiệt hại tài sản cho ông Phạm Minh Đ số tiền 18.000.000 đồng;
- Trả tiền thuê xe còn nợ cho ông Hồ Thanh T1 và bà Lê Mỹ X số tiền 2.800.000 đồng ;
- Trả cho ông Châu Thành N1 số tiền vốn vay 3.000.000 đồng;
- Trả cho ông Mai Văn Thông s tiền vốn vay 24.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thanh K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.390.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/7/2024). Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VKSND Tp. Sa Đéc; (2b) - Công an Tp. Sa Đéc; (4b) - Chi cục THA Tp. Sa Đéc; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia tố tụng; (1b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hoàng Anh |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lạm dụng tín nhiệm lừa đảo nhiều người
