|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 04/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Vương Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Ngọc Ánh Ông Mai Gia Cát
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Trí – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Quách Phương H - Sinh năm: 1994 tại Khánh Hòa
Nơi ĐKHKTT: Số 12 Bến Chợ, phường Xương Huân, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Nơi ở: Căn hộ 501 tòa nhà Aura, số 69/4A Quảng Đức, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Thanh H1 (sinh năm 1965) và bà Nguyễn Thị Đoan T (sinh năm 1971); chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2022 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
-
Võ Minh H2 - Sinh năm: 2001 tại Khánh Hòa
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ P (sinh năm 1973) và
bà Đặng Thị Lệ H3 (sinh năm 1974); chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2022 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Thị Ngọc T1 - Sinh năm: 2000 tại Ninh Thuận
Nơi cư trú: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn K (sinh năm 1979) và bà Lê Thị Ngọc H4 (sinh năm 1982); có 1 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Quách Phương H:
Luật sư Phạm Thái H5 – Văn phòng luật sư Phạm Thái H5, là luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh K, bào chữa cho bị cáo Quách Phương H theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Luật sư H5 có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1:
Luật sư Lê Hồng Q – Công ty L2, là luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh K, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 theo yêu cầu của bị cáo. Luật sư Q có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lê Thị Ngọc H4 – Sinh năm: 1982
Trú tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
-
Ông Lê Duy P1 – Sinh năm: 1984
Trú tại: Tổ A Đường Đ, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Ông Lê Quang P2 – Sinh năm: 1989
Trú tại: Tổ D, B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Ông Đinh Văn Đ – Sinh năm: 1974
Trú tại: 1 M, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 18/7/2022, tại khu vực đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện bắt quả tang Võ Minh H2 về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ 15 viên ma túy thuốc lắc có tổng khối lượng là 7,0278 gam MDMA và 02 bịch ma túy khay có tổng khối lượng là 2,9174 gam Ketamine. Qua làm việc, Võ Minh H2 khai nhận toàn bộ số ma túy trên H2 mua giúp cho bạn tên là T2 và È (chưa rõ nhân thân, lai lịch) từ Quách Phương H tại khu vực hẻm S Q, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa với giá 10.200.000 đồng (số tiền này là do È đưa cho) và đang trên đường mang ma túy này về phòng trọ trên đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để đưa cho È thì bị phát hiện bắt giữ.
Tiếp tục truy xét, đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực trước khách sạn S, số B T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Tổ công tác phát hiện Quách Phương H đang đi cùng bạn gái là Nguyễn Thị Ngọc T1 nên mời về Công an phường L làm việc. Tại đây, Quách Phương H thừa nhận việc bán 15 viên ma túy thuốc lắc và 02 bịch nửa hộp 5 ma túy khay cho Võ Minh H2. Qua kiểm tra, Quách Phương H tự lấy trong người ra giao nộp cho cơ quan Công an 14 viên ma túy thuốc lắc có tổng khối lượng là 6,4804 gam MDMA, 04 bịch ma túy khay có tổng khối lượng là 6,1338 gam Ketamine và số tiền 10.200.000 đồng vừa bán ma túy cho Võ Minh H2. Nguyễn Thị Ngọc T1 tự lấy trong túi xách của mình ra 01 viên ma túy thuốc lắc có khối lượng là 0,4716 gam MDMA giao nộp cho cơ quan Công an và khai nhận viên ma túy thuốc lắc này của H cho T1 nhưng chưa sử dụng. Đến ngày 19/7/2022, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Quách Phương H tại Căn hộ S tòa nhà A, số F Q, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N phát hiện, thu giữ 133 viên ma túy thuốc lắc có tổng khối lượng là 61,6961 gam MDMA, 06 bịch ma túy khay có tổng khối lượng là 58,6249 gam Ketamine.
Quá trình điều tra đến nay xác định:
Từ năm 2021, Quách Phương H quen biết và đã nhiều lần mua ma túy của người nam tên H6 (chưa rõ lai lịch, sử dụng tài khoản Telegram tên “Tử Tiểu Hầu” được đăng ký bằng số điện thoại 0968.141.xxx) để bản thân sử dụng. Đến tháng 5/2022, H bắt đầu mua nợ ma túy của H6 mang về phân lẻ, bán lại cho người khác kiếm lời. Khi cần mua ma túy, H liên lạc với H6 qua T3 để hỏi mua, số lượng mỗi lần là 100 viên ma túy thuốc lắc, 50 gam ma túy khay, H6 đồng ý bán với giá 250.000 đồng/01 viên ma túy thuốc lắc, 55.000.000 đồng/50 gam ma túy khay và hẹn đến khu vực cổng chợ Đ1, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa sẽ có người giao ma túy. Tại điểm hẹn, H nhận ma túy từ một người nam (mỗi lần là một người khác nhau, không biết tên, địa chỉ) rồi mang về căn hộ S tòa nhà A cất giấu và phân lẻ 50 gam ma túy khay thành 30 bịch (loại nửa hộp 5/bịch). Khi T2, V, L và nhiều người khác (đều chưa rõ lai lịch) liên lạc với H qua tài khoản Messenger tên "Quách Phương H” để hỏi mua ma túy, H thỏa thuận số lượng, hẹn địa điểm và mang ma túy đi bán với giá 300.000 đồng/01
viên ma túy thuốc lắc, 3.000.000 đồng/01 bịch nửa hộp 5 ma túy khay. Sau khi bán được ma túy, H trả tiền mua ma túy cho H6 bằng cách chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng T6 số 19037502263015 tên Quách Phương H vào tài khoản ngân hàng V1 số 1015491383 tên Võ Ngọc H7. Với cách thức như trên, H đã nhiều lần mua ma túy của H7 về bán.
Đến ngày 11/7/2022, do gần hết ma túy, H tiếp tục mua của H7 100 viên ma túy thuốc lắc và 50 gam ma túy khay mang về căn hộ E tòa nhà A cất giấu, phân lẻ và bán cho nhiều người. Đến tối ngày 16/7/2022, H rủ Nguyễn Thị Ngọc T1 đến quán bar P4 trên đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để nhậu và nghe nhạc, T1 đồng ý. Khi đi, H mang theo 02 viên ma túy thuốc lắc để sử dụng. Tại quán bar P4, H, T1 nhậu cùng người nam tên H8 và 03 người nam khác (là bạn của H8, đều không rõ lai lịch). Lúc này, H lấy 02 viên ma túy thuốc lắc bỏ lên bàn và rủ cả nhóm cùng sử dụng, nhưng tất cả đều từ chối. Sau đó, H tự sử dụng hết 01 viên ma túy thuốc lắc. Khi ra về, T1 xin Huy viên ma túy thuốc lắc còn lại đang bỏ trên bàn để bản thân sử dụng sau, H đồng ý và T1 đã lấy viên ma túy thuốc lắc này cất vào giỏ xách của mình.
Đến khoảng 21 giờ 00 ngày 18/7/2022, có người nam tên T2 sử dụng tài khoản Messenger tên “Tú P3” liên lạc với H hỏi mua 15 viên ma túy thuốc lắc và 01 hộp 5 ma túy khay. H đồng ý bán với giá 10.200.000 đồng và hẹn giao tại khu vực đầu hẻm F Q, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, T2 sử dụng tài khoản Messenger trên gọi điện thoại cho Võ Minh H2 nói có người nam tên È nhờ T2 mua ma túy, T2 đã liên lạc với H mua ma túy và hẹn giao tại khu vực đầu hẻm F Q. Đồng thời, T2 nói H2 đến địa điểm trên gặp H nhận 15 viên ma túy thuốc lắc, 01 hộp 5 ma túy khay và mang giao cho È, H2 đồng ý. Lúc này, T2 báo cho H sẽ có Hiếu đến gặp để nhận ma túy. Khoảng 22 giờ cùng ngày, È đến phòng trọ của H2 trên đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đưa 10.200.000 đồng và dặn H2 khi nào mua được ma túy thì mang về phòng trọ này, È sẽ đến lấy. Sau đó, tại khu vực đầu hẻm F Q, H bán 15 viên ma túy thuốc lắc, 02 bịch nửa hộp 5 ma túy khay cho H2 và nhận số tiền 10.200.000 đồng. Khi H2 đang mang số ma túy này quay về phòng trọ trên đường N để giao cho È thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Sau khi bán ma túy cho H2 xong, H quay về Căn hộ số 501 tòa nhà A lấy 14 viên ma túy thuốc lắc, 04 bịch nửa hộp 5 ma túy khay cất giấu trong người để khi có người hỏi mua thì bán và chở bạn gái là Nguyễn Thị Ngọc T1 đi chơi. Đến hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày, H và T1 bị cơ quan Công an phát hiện như trên.
Ngày 25/7/2022, Phòng K1 Công an tỉnh K có Kết luận giám định số 300/GĐ-GT/2022/KL-KTHS dối với các mẫu vật gửi giám định.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đang tạm giữ một số đồ vật, tài liệu gồm:
- - 04 (bốn) phong bì niêm phong ký hiệu A, B, C, D, bên ngoài ghi “Vụ 300/GĐ-GT/2022/KL-KTHS - Mẫu vật còn lại sau giám định”, có chữ ký của Thượng tá Nguyễn Khắc H9, Nguyễn Hoàng Quang A1, Nguyễn Hương T4, Hồ Hoàng T5 và hình dấu tròn, màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh K.
- - Số tiền 10.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, vỏ màu vàng, sử dụng số thuê bao 0774722345, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng; 01 cân điện tử mini màu xám; nhiều bịch nylon màu trắng có khoá khẳn miệng kích thước (4x7,5)cm và (3x4)cm bên trong không dựng gì (tạm giữ của Quách Phương H).
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, vỏ màu hồng, sử dụng số thuê bao 0826508722, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng (tạm giữ của Võ Minh H2).
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSKH-P1 ngày 09/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Quách Phương H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Võ Minh H2 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bản cáo trạng còn xác định:
- - Đối với người nam tên H7 (sử dụng tài khoản Telegram tên “Tử Tiểu Hầu” được đăng ký bằng số điện thoại 0968.141.xxx và tài khoản ngân hàng V1 số 1015491383 tên Võ Ngọc H7) bán ma túy cho Quách Phương H, quá trình điều tra xác định:
-
+ V2 - Chi nhánh Tập đoàn C xác định số điện thoại 0968.141.xxx, được đăng ký bởi Trần Thị Cẩm L1 (Sinh năm 2002 – HKTT: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Phước tiến hành một số hoạt động điều tra đối với Trần Thị Cẩm L1. Qua làm việc, Công an xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước xác định Trần Thị Cẩm L1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên, nhưng L1 đã đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Do đó, với những tài liệu đã thu thập được chưa đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Cẩm L1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục điều tra, xác minh, khi đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.
+ Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh K2 xác định người đứng tên đăng ký tài khoản số 1015491383 là Võ Ngọc H7 (Sinh năm 1996 - HKTT: Thôn T, xã N, huyện N, Khánh Hòa). Qua xác minh, Công an xã N xác định Võ Ngọc H7 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên nhưng H7 đã đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Đồng thời, qua nhận dạng, Quách Phương H không nhận dạng được Võ Ngọc H7. Do đó, với những tài liệu đã thu thập được chưa đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Võ Ngọc H7, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục điều tra, xác minh, khi đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.
+ Đối với người nam tên H7, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục xác minh, khi đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.
- - Đối với những người nam giúp H7 giao ma túy cho Quách Phương H, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục xác minh, khi đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.
- - Đối với người nam tên T2, È nhờ Võ Minh H2 đến gặp Quách Phương H để mua ma túy, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục xác minh, khi đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.
- Về tố tụng hình sự: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
- Theo hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Ngọc H4 xác định đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển kiểm soát 85B1-846.56 và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
- Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa kiến nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh nhân thân, lai lịch, xem xét những hành vi có dấu hiệu phạm tội của người tên H7, các đối tượng tên Võ Ngọc H7, Trần Thị Cẩm L1, T2, È và những người giúp H7 giao ma túy cho Quách Phương H và xử lý theo quy định của pháp luật nếu có căn cứ.
-
Về xử lý vật chứng:
Bị cáo Quách Phương H và Võ Minh H2 thừa nhận: Một điện thoại di động hiệu Iphone vỏ màu vàng sử dụng số thuê bao 0774722345, 01 điện thoại di động hiệu Iphone vỏ màu hồng sử dụng số thuê bao 0826508722 là những điện thoại được các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với các phong bì niêm phong ký hiệu A, B, C, D là ma túy còn lại sau giám định, 1 cân điện tử màu xám, nhiều bịch ny lông màu trắng có khóa khằn miệng kích thước (4x7,5)cm và (3x4)cm, bên trong không đựng gì, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 10.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Quách Phương H là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Các bị cáo Quách Phương H, Võ Minh H2, Nguyễn Thị Ngọc T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Bốn phong bì niêm phong ký hiệu A, B, C, D bên ngoài ghi: “Vụ 300/GĐ-GT/2022-Mẫu vật còn lại sau giám định” có chữ ký của Thượng tá Nguyễn Khắc H9, Nguyễn Hoàng Quang A1, Nguyễn Hương T4, Hồ Hoàng T5 và hình dấu tròn, màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh K.
- - 01 cân điện tử mini màu xám không rõ nhãn hiệu.
- - Nhiều bịch ny lông màu trắng có khóa khằn miệng kích thước (4x7,5)cm và (3x4)cm, bên trong không đựng gì.
Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết về nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Quách Phương H mức hình phạt từ 17 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thực hiện tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Võ Minh H2 mức hình phạt từ 7 đến 8 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Nguyễn Thị Ngọc T1 mức hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy các mẫu vật ma túy còn lại, tiêu hủy một cân điện tử và các bịch ny lông màu trắng; tịch thu sung công quỹ số điện thoại và số tiền đã thu giữ của các bị cáo.
Bào chữa cho bị cáo Quách Phương H, luật sư Phạm Thái H5 đồng ý với các tội danh và khung hình phạt theo truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1, luật sư Lê Hồng Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lượng ma tuý bị cáo tàng trữ không phải quá lớn, bị cáo phạm tội có phần thụ động, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo đang nuôi con nhỏ và hiện đang là phụ nữ có thai để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tất cả người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 có đơn xin xét xử vắng mặt vì hiện tại bị cáo đang ở tháng cuối của thai kỳ nên khó khăn trong việc đi lại. Xét thấy sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nói trên không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ khoản 2 Điều 290, Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Quách Phương H khai nhận: Từ tháng 5/2021 đến 11/7/2021. H mua ma túy từ một người tên H7 (không xác định được lai lịch) về bán cho những người tên T2, V, L và một số người không rõ lai lịch khác. Ngày 18/7/2022, thông qua hội thoại trao đổi trên tài khoản Mesenger, H đồng ý bán cho người tên T2 15 viên ma túy thuốc lắc, 1 hộp 5 ma túy khay với giá 10.200.000 đồng, Võ Minh H2 là người được T2 nhờ đến nhận ma túy và mang về phòng trọ giao lại cho người tên È. Tổng khối lượng ma túy bị cáo H bị bắt giữ khi đang tàng trữ trong người và tại nơi ở, nhằm mục đích bán lại kiếm lời và khối lượng ma túy bị cáo H đã giao cho Võ Minh H2 là 75,2043 gam MDMA; 67,6761 gam Ketamine.
Ngoài ra, bị cáo Quách Phương H còn cho Nguyễn Thị Ngọc T1 1 viên ma tuý loại MDMA có khối lượng 0,4716 gam để sử dụng. Nguyễn Thị Ngọc T1 bị cơ quan điều tra bắt quả tang đang tàng trữ 0,4716 gam ma tuý MDMA nói trên vào ngày 18/7/2022 tại khu vực trước khách sạn S, thành phố N.
Ngày 18/7/2022, Võ Minh H2 được một người nam tên T2 gọi điện nhờ mua giúp ma túy, H2 nhận tiền từ người tên È để mang ma túy mua được từ Quách Phương H về phòng trọ cho È đến lấy. Võ Minh H2 không biết mục đích mua ma túy của T2 và È để làm gì, cũng không nhận thù lao hay lợi ích gì từ T2 và È nhưng đã đồng ý vận chuyển trái phép chất ma túy giúp T2 và È, với khối lượng ma túy được vận chuyển là 7,0278 gam MDMA và 2,9174 gam Ketamine.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Quách Phương H, Võ Minh H2, Nguyễn Thị Ngọc T1 phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản sự việc, biên bản khám xét, kết luận giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh K, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ cơ sở để kết luận rằng, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Võ Minh H2 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 và truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với bị cáo Quách Phương H, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với số ma tuý bao gồm 6,4804 gam MDMA và 6,1338 gam Ketamine thu giữ trên người Quách Phương H, lượng ma tuý thu giữ tại nơi ở của Quách Phương H là 61,6961 gam MDMA và 58,6249 gam Ketamine; lượng ma tuý H đã bán và giao cho Võ Minh H2 là 7,0278 gam MDMA và 2,9174 gam Ketamine mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Quách Phương H là có căn cứ và đúng pháp luật.
Riêng đối với 0,4716 gam ma tuý MDMA còn lại (thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc T1, có nguồn gốc là ma tuý Quách Phương H cho T1 sử dụng), nhận thấy:
Tổng khối lượng ma tuý của Quách Phương H bị thu giữ trong vụ án này là 75,6759 gam MDMA và 67,6761 gam Ketamine. Đây là lượng ma tuý H mua để sử dụng và mua bán cho người khác để kiếm lời. Áp dụng tinh thần hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 Phần I Thông tư số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma tuý” của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Quách Phương H bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội theo điều luật quy định tội nặng hơn là tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tổng khối lượng ma tuý của H đã bị thu giữ bao gồm cả 0,4716 gam ma tuý loại MDMA mà H cho Nguyễn Thị Ngọc T1 sử dụng. Do đó, hành vi phạm tội của Quách Phương H chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, làm lan truyền nạn nghiện ngập ma túy, các căn bệnh xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo Quách Phương H là người chủ động mua ma túy từ một nam thanh niên không xác định lai lịch về bán cho nhiều người nghiện để kiếm lời. Bị cáo H giữ vai trò rất tích cực trong việc thực hiện hành vi phạm tội, khối lượng ma túy bị cáo đã bán cho người tên T2 (được giao cho Võ Minh H2 vận chuyển) là 7,0278 gam MDMA và 2,9174 gam Ketamine, cùng khối lượng ma túy bị cáo H đang tàng trữ trên người và chỗ ở bị Cơ quan điều tra thu giữ là 68,1765 gam MDMA và 64,7587 gam Ketamine. Tổng khối lượng ma túy bị cáo Quách Phương H đã bán; tàng trữ với mục đích mua bán và sử dụng bị Cơ quan điều tra thu giữ là 75,6759 gam MDMA và 67,6761 gam Ketamine.
Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng các chất ma túy bị cáo Quách Phương H mua bán thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo mua bán ma túy với khối lượng lớn, thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc mới đảm bảo nguyên tắc xử lý tội phạm.
Bị cáo Võ Minh H2 là người nhận ma túy từ Quách Phương H để vận chuyển về phòng trọ giao cho thanh niên tên È, với khối lượng ma túy đã vận chuyển là 7,0278 gam MDMA và 2,9174 gam Ketamine. Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng các chất ma túy bị cáo Võ Minh H2 vận chuyển thuộc trường hợp quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử nhận thấy cần xem xét áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo H2 mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục chung cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 cất giữ bất hợp pháp 0,4716 gam ma túy MDMA không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 0,4716 gam chất ma túy MDMA.
Xem xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Quách Phương H, Võ Minh H2 và Nguyễn Thị Ngọc T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo H có thời gian tham gia quân ngũ nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 là phụ nữ có thai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Quách Phương H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Võ Minh H2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Quách Phương H;
Xử phạt: Bị cáo QUÁCH PHƯƠNG HUY 19 (mười chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (19/7/2022).
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Võ Minh H2;
Xử phạt: Bị cáo VÕ MINH HIẾU 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (18/7/2022).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1;
Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN THỊ NGỌC THẢO 1 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;
* Tịch thu tiêu hủy:
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone hiệu Iphone vỏ màu vàng sử dụng số thuê bao 0774722345 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng) thu giữ của Quách Phương H, 01 điện thoại di động hiệu Iphone vỏ màu hồng sử dụng số thuê bao 0826508722 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng) thu giữ của Võ Minh H2.
* Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.200.000 đồng thu giữ của bị cáo Quách Phương H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa và theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 19/01/2023 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh K vào tài khoản của Kho bạc nhà nước K3, mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 – Chi nhánh K2).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Các bị cáo Quách Phương H, Võ Minh H2, Nguyễn Thị Ngọc T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T1 và người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
LÂM VƯƠNG MỸ LINH |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự (mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán, Vận chuyển, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quach Phuong H - Mua ban ma tuy
