|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày: 15/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thu Hà.
Ông Trần Đức Nhì.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuyết M; Sinh ngày: 02/01/2001; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 31/1B tổ 144, ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 30/2H ấp MH A, xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Q và bà: Lê Thị H; Có chồng: Là ông Trương Văn L và con: Có 01 người con, sinh ngày 10/7/2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/12/2023.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trương Thị Y; Sinh năm: 1968; Thường trú: 140M tổ J, khu phố A, phường TMT, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 30/2H ấp MH A, xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
- Ông Trương Văn L; Sinh năm: 1995; Thường trú: 140M tổ J, khu phố A, phường TMT, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 30/2H ấp MH A, xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, tổ công tác thuộc Công an Quận 6 trên đường tuần tra phát hiện Nguyễn Tuyết M đang điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, biển số 50Y1-684.85 chở bà Trương Thị Y (mẹ chồng của M), Trương Nguyên K (con trai của M) và 01 bao hàng bằng vải bố màu xanh dương chạy đến ngã tư đường CVA - đường BS, Phường A, Quận F có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong bao hàng chứa 05 hộp pháo dàn (mỗi hộp có 49 viên), 03 túi nylon, trong mỗi túi có 100 viên pháo hình cầu nhiều màu sắc (M khai toàn bộ là pháo nổ của M đang trên đường đem đi bán). Sau đó, tổ công tác đã giao M, bà Y cùng vật chứng nêu trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.
Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Tuyết M tại nhà số 30/2H ấp MH A, xã TC, huyện HM, tổ công tác thu giữ trên gác lửng phía trước nhà 01 thùng carton (đặt trên quạt máy điện màu xanh), bên trong thùng carton chứa 01 hộp pháo dàn (loại 100 viên) và 361 viên pháo hình cầu nhiều màu sắc (M khai toàn bộ là pháo nổ của M mua để bán thu lợi).
Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Nguyễn Tuyết M khai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/12/2023, M liên lạc với một người phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua 10 hộp pháo hoa nổ (mỗi hộp có 49 viên) và 05 hộp pháo hoa nổ (mỗi hộp có 100 viên) với giá 16.000.000 đồng. Sau đó, M đến điểm hẹn tại bảng «Cầu Bông» khu vực cầu AH, xã TTN, huyện HM gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) nhận số pháo đã đặt mua, rồi lên mạng xã hội sử dụng tài khoản Facebook có tên «Ngiy M» đăng bán pháo nổ trên các nhóm «Mua bán pháo tết 2024», «Pháo hoa tết 2024», «Pháo tết 2024» và M đã bán số pháo hoa nổ, pháo nổ trên cho nhiều người (không rõ lai lịch), còn lại 05 hộp pháo hoa nổ (loại 49 viên/hộp), 01 hộp pháo hoa nổ (loại 100 viên) và 661 viên pháo nổ (M đã mua trước đó). Sáng ngày 15/12/2023, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đặt mua 300 viên pháo nổ, 05 hộp pháo hoa nổ (loại 49 viên/hộp) và hẹn giao hàng tại khu vực Quận 6. Đến 06 giờ cùng ngày, M đem theo 01 bao hàng bằng vải bố màu xanh dương (bên trong có 03 túi nylon chứa 300 viên pháo nổ và 05 hộp pháo hoa nổ, loại 49 viên/hộp) chở bà Trương Thị Y và con trai chạy đến ngã tư đường CVA - đường BS, Phường A, Quận F để giao hàng thì bị phát hiện bắt giữ như nêu trên. Ngoài ra, M khai đã mua pháo nổ của người phụ nữ này được 04 lần, giá 01 hộp pháo hoa nổ loại 49 viên là 900.000 đồng, loại 100 viên là 1.400.000 đồng; giá 01 túi pháo nổ loại 100 viên là 550.00 đồng.
Trương Thị Y khai tương tự và xác nhận không hùn tiền với Nguyễn Tuyết M mua pháo nổ cũng như Y không biết việc M mua bán cất giữ pháo nổ như thế nào. Sáng ngày 15/12/2023, Y chỉ đi theo đến chợ BT để mua đồ và giữ con cho M.
Tại Kết luận giám định số: 30/KL-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 bao vải màu xanh dương được niêm phong có các chữ ký ghi tên Nguyễn Tuyết M, Võ Minh Phú (Đội CSKT), Trung tá Trần Kiều Mộng Sanh (Trưởng Công an Phường 1, Quận 6) và hình dấu Công an Phường 1, Quận 6, bên trong có:
- 05 khối hình hộp kích thước khoảng 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao khoảng 10cm được gắn với nhau) cần giám định (ký hiệu m₁) đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 8,88kg (tám phẩy tám tám kilogam).
- 03 gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc, đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh cần giám định (ký hiệu m2) đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,35kg (một phẩy ba năm kilogam).
Tổng khối lượng mẫu vật cần giám định là 10,23kg (một không phẩy hai ba kilogam).
Tại Kết luận giám định số: 170/KL-KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 thùng cac-ton được niêm phong có chữ ký ghi tên Nguyễn Tuyết M, Nguyễn Thế H (người chứng kiến), Phạm Nguyễn Hồng Phong (Điều tra viên), Nguyễn Ngọc Đạo (Công an xã), Trịnh Đức Thuận (người lập) và hình dấu của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong có:
- 01 khối hình hộp kích thước khoảng 23,5x23,5x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 100 ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao khoảng 10cm được gắn với nhau) cần giám định (ký hiệu m₁) là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 3,14kg (ba phẩy một bốn kilogam).
- 04 gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc (361 viên), đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh cần giám định (ký hiệu m2) đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,59kg (một phẩy năm chín kilogam).
Tổng khối lượng mẫu vật cần giám định là 4,73kg (bốn phẩy bảy ba kilogam).
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 234/QĐ-ĐCSKT); khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuyết M về tội «Buôn bán hàng cấm» (Quyết định số: 218/QĐ-ĐCSKT).
Đối với Trương Thị Y, Cơ quan điều tra không chứng minh được Y có liên quan đến hành vi mua bán pháo nổ của Nguyễn Tuyết M, nên không có căn cứ xử lý. Còn người phụ nữ, người đàn ông bán pháo nổ cho Nguyễn Tuyết M ở khu vực cầu AH, xã TTN, huyện HM và những người mua pháo nổ từ Nguyễn Tuyết M, hiện chưa xác định được lai lịch. Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKS-Q6 ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuyết M về tội «Buôn bán hàng cấm» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Tuyết M khai nhận chính bị cáo, đã mua pháo nổ để bán dịp tết nguyên đán 2023 kiếm lời và bị Công an phát hiện bắt quả tang tại ngã tư đường CVA - đường BS, Phường A, Quận F vào lúc 08 giờ 15 phút ngày 15/12/2023 như nội dung bản cáo trạng nêu;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Văn L khai do phải thường xuyên đi làm không có mặt ở nhà, nên ông hoàn toàn không biết vợ ông là bị cáo Nguyễn Tuyết M đã mua và cất giữ pháo nổ trong nhà, chỉ khi vợ ông bị bắt thì ông mới biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tuyết M như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Nguyễn Tuyết M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Buôn bán hàng cấm» theo điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe gắn máy biển số 50Y1-684.85, số khung: MH1KF4120LK111049, số máy: KF41E-2115147 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại Vario 150, dung tích 149); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu hồng 128Gb, số Imei 1: 356564085025471.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 cuộn băng keo trong (đã được niêm phong); 01 sim điện thoại Mobifone (số sim 8401230450237513, số thuê bao 0702995408).
Trả lại bị cáo Trương Thị Y 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 868613043266759, số Imei 2: 868613043266749 (bên trong có 01 sim điện thoại Vietnamobile số sim 89840509191038923302, số thuê bao 0585154219).
Giao 01 bao vải màu xanh dương được niêm phong có các chữ ký ghi tên Võ Minh Phú (CAQ6), Trung tá Nguyễn Xuân Sang, có tổng khối lượng là 10,23kg, bên trong gồm: 05 khối hình hộp kích thước khoảng 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao khoảng 10cm được gắn với nhau) đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 8,88kg; 03 gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc, đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,35kg và 01 thùng carton được niêm phong có chữ ký ghi tên Võ Minh Phú (CAQ6), Trung tá Nguyễn Xuân Sang, có tổng khối lượng là 4,73kg, bên trong gồm: 01 khối hình hộp kích thước khoảng 23,5x23,5x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối 100 ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao 10cm được gắn với nhau) là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 3,14kg; 04 gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc (361 viên), đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,59kg cho Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Quân khu 7 để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc Nguyễn Tuyết M bán pháo nổ ngày 15/12/2023) đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Phạm Nguyễn Hồng Phong và hai hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; 02 cuốn tập (bên trong ghi chép nhiều số điện thoại), là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Tuyết M nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời và chăm sóc, nuôi dưỡng con nhỏ đang bị bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Tuyết M, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Văn L tại phiên tòa với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Khám nghiệm hiện trường ngày 06/10/2023 của Công an Quận 6 (kèm bản ảnh); Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; các Kết luận giám định số: 30/KL-KTHS và số: 170/KL-KTHS cùng ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Thị Y và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tuyết M đã phạm tội «Buôn bán hàng cấm». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bị cáo Nguyễn Tuyết M đã mua pháo nổ, pháo hoa nổ đem bán để thu lợi và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 08 giờ 15 phút ngày 15/12/2023 tại ngã tư đường CVA - đường BS, Phường A, Quận F), Công an Quận 6 đã thu giữ của bị cáo 05 hộp pháo nổ (pháo hoa nổ - mỗi hộp có 49 viên) có khối lượng 8,88 kilogam; 300 viên pháo nổ có khối lượng 1,35 kilogam. Ngoài ra, còn thu giữ tại nơi ở của bị cáo, địa chỉ 30/2H ấp MH A, xã TC, huyện HM 01 hộp pháo nổ (pháo hoa nổ - loại 100 viên) có khối lượng 3,14 kilogam; 361 viên pháo nổ có khối lượng 1,59 kilogam (bị cáo khai toàn bộ số pháo nổ, pháo hoa nổ bị thu giữ là của bị cáo mua nhằm mục đích để bán thu lợi). Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với pháo nổ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Và tổng khối lượng pháo nổ, pháo hoa nổ thu giữ của bị cáo là 14,96 kilogam. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội «Buôn bán hàng cấm» thuộc trường hợp «Buôn bán pháo nổ từ 06 kilogam đến dưới 40 kilogam» theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Tuyết M là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức rõ được hành vi buôn bán trái phép pháo nổ, là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, mặc cho hậu quả xảy ra như thế nào, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuyết M là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, bởi hành vi buôn bán pháo nổ trong những ngày giáp tết Cổ truyền hàng năm diễn ra khá phức tạp, đã tạo nên mối hiểm nguy, lo sợ đối với mọi người về tai nạn do pháo nổ gây ra và trên thực tế hiểm họa đó đã xảy ra, để lại những hậu quả, tai nạn thương tâm, do đó đối với hành vi này cần phải được xử lý nghiêm để hạn chế những tổn thất về người và của cho nhân dân, cho nhà nước. Tuy nhiên, xét bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu (chưa có tiền án, tiền sự); bản thân có con nhỏ đang bị bệnh (chậm phát triển trí tuệ) cần được chăm sóc, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[4] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung:
[5.1] Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Tuyết M còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương). Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5.2] Đối với số tiền mà bị cáo Nguyễn Tuyết M khai thu lợi từ hành vi mua bán pháo nổ cho những người không rõ lai lịch. Xét thấy, ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ để buộc bị cáo nộp lại khoản tiền này.
[6] Việc xử lý vật chứng:
[6.1] Chiếc xe gắn máy biển số 50Y1-684.85, số máy: KF41E-2115147, số khung: MH1KF4120LK111049 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại Vario 150, dung tích 149). Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tuyết M, do bị cáo đứng tên chủ xe và bị cáo đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện phạm tội, nên Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước cùng với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu hồng 128Gb, số Imei 1: 356564085025471 (thu giữ của bị cáo) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6.2] Đối với 01 cuộn băng keo trong (đã được niêm phong); 01 sim điện thoại Mobifone, số sim 8401230450237513, số thuê bao 0702995408 (trong chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu hồng), là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6.3] Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 868613043266759, số Imei 2: 868613043266749 (bên trong có 01 sim điện thoại Vietnamobile số sim 89840509191038923302, số thuê bao 0585154219) thu giữ của bà Trương Thị Y. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bà Y vì không liên quan gì đến vụ án. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6.4] Đối với 01 bao vải màu xanh dương được niêm phong có các chữ ký ghi tên Võ Minh Phú (CAQ6), Trung tá Nguyễn Xuân Sang, có tổng khối lượng là 10,23kg, bên trong gồm: 05 khối hình hộp kích thước khoảng 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao khoảng 10cm được gắn với nhau) đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 8,88kg; 03 gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc, đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,35kg và 01 thùng carton được niêm phong có chữ ký ghi tên Võ Minh Phú (CAQ6), Trung tá Nguyễn Xuân Sang, có tổng khối lượng là 4,73kg, bên trong gồm: 01 khối hình hộp kích thước khoảng 23,5x23,5x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối 100 ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao 10cm được gắn với nhau) là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 3,14kg; 04 gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc (361 viên), đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,59kg. Nhận thấy số pháo nổ trên là nguồn nguy hiểm cao độ và Nhà nước có quy định chặt chẽ về việc quản lý, sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Quân khu 7 xử lý theo thẩm quyền.
[6.5] Đối với 01 USB (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc Nguyễn Tuyết M bán pháo nổ ngày 15/12/2023) đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Phạm Nguyễn Hồng Phong và hai hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; 02 cuốn tập (bên trong ghi chép nhiều số điện thoại), là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[7] Đối với các ông, bà Trương Thị Y, Trương Văn L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Viện kiểm sát xác định không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán, cất giữ pháo nổ với vai trò đồng phạm. Còn người phụ nữ và người đàn ông bán pháo nổ cho Nguyễn Tuyết M ở khu vực cầu AH, xã TTN, huyện HM cùng những người mua pháo nổ từ Nguyễn Tuyết M, Viện kiểm sát đề nghị lúc nào Cơ quan điều tra xác minh làm rõ xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Mặc dù tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuyết M khai đã nhiều lần mua pháo nổ để bán thu lợi, nhưng xét ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, nên Hội đồng xét xử không đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp «Phạm tội 02 lần trở lên».
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuyết M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuyết M 01 (một) năm tù về tội «Buôn bán hàng cấm». Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 50Y1-684.85, số khung: MH1KF4120LK111049, số máy: KF41E-2115147 (loại xe hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại Vario 150, dung tích 149); 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu hồng 128Gb, số Imei: 356564085025471.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cuộn băng keo trong (đã được niêm phong); 01 (một) sim điện thoại Mobifone (số sim 8401230450237513, số thuê bao 0702995408).
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Giao 01 (một) bao vải màu xanh dương được niêm phong có các chữ ký ghi tên Võ Minh Phú (CAQ6), Trung tá Nguyễn Xuân Sang, có tổng khối lượng là 10,23kg (một không phẩy hai ba kilogam), bên trong gồm: 05 (năm) khối hình hộp kích thước khoảng 17x17x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, mỗi khối gồm 49 (bốn chín) ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao khoảng 10cm được gắn với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng 8,88kg (tám phẩy tám tám kilogam); 03 (ba) gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc, đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,35kg (một phẩy ba năm kilogam) và 01 (một) thùng carton được niêm phong có chữ ký ghi tên Võ Minh Phú (CAQ6), Trung tá Nguyễn Xuân Sang, có tổng khối lượng là 4,73kg (bốn phẩy bảy ba kilogam), bên trong gồm: 01 (một) khối hình hộp kích thước khoảng 23,5x23,5x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, mỗi khối 100 (một không không) ống hình trụ có đường kính khoảng 2,4cm, cao 10cm được gắn với nhau) là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 3,14kg (ba phẩy một bốn kilogam); 04 (bốn) gói nylon chứa các vật thể hình cầu nhiều màu sắc (361 viên), đường kính khoảng 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, tổng khối lượng 1,59kg (một phẩy năm chín kilogam) cho Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Quân khu 7 để xử lý theo thẩm quyền.
- Trả lại bà Trương Thị Y 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, số Imei 1: 868613043266759, số Imei 2: 868613043266749, bên trong có 01 (một) sim điện thoại Vietnamobile (số sim 89840509191038923302, số thuê bao 0585154219).
(theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Quân khu 7 và Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Nguyễn Tuyết M phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Nguyễn Tuyết M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trương Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |
Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 47/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuyết M 01 (một) năm tù về tội «Buôn bán hàng cấm». Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
