Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q.CẨM LỆ-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày: 14/5/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Đoàn Văn Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: bà Lê Thùy Linh và bà Huỳnh Thị Thu Sương- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Đào Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 02/12; Họ và tên cha: Không rõ; Họ và tên mẹ: Đào Thị B (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Họ và tên vợ: Bùi Thị V, sinh năm: 1976. Có 01 con chung sinh năm: 2007. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1981; trú: B H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

2. Ông Trần Nhất H, sinh năm: 1972; trú: A L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Huỳnh Ngọc L, sinh năm: 1958; trú: Tổ I phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 04 giờ ngày 11/11/2023, Đào Văn T mang theo 01 cái kéo và 01 đèn pin đeo đầu đi bộ đến đường M, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến công trình xây dựng nhà số A đường M, do ông Nguyễn Văn Đ làm chủ, T quan sát thấy không có ai nên đi vào nhà rồi dùng kéo cắt 7,5 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 6.0 (7/1,04)”; 78 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 4.0 (7/0,85)”; 197 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 2.5 (7/0,67); 353 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 1.5 (7/0,52); 30 mét dây cáp mạng màu xanh ký hiệu “6UTP23AWG4” có tổng trị giá 4.185.700 đồng. T đem tài sản trộm được cuộn gọn lại, ném xuống bãi đất phía sau rồi tẩu thoát.

Sau khi lấy được tài sản của nhà ông Nguyễn Văn Đ, T tiếp tục qua công trình xây dựng nhà số A M của ông Trần Nhất H. Quan sát thấy không có người trông coi nên T đột nhập vào dùng kéo cắt rời 01 ổ cắm điện, 01 phích cắm và 11,2 mét dây điện màu vàng có trị giá 210.000 đồng rồi tiếp tục cắt 16 mét dây điện loại dây đôi, màu xanh, có đường kính 0,7cm ở dọc tường của ông H. Lúc này, T nghe có tiếng xe máy đến nên gom số tài sản vừa lấy được lại một góc ở tầng 2 rồi dùng bao xi măng che lại và đi xuống tầng 1. Khi đi xuống cầu thang thì T bị ông Trần Nhất H và ông Huỳnh Ngọc L phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 16 mét dây điện màu xanh có đường kính 0,7cm; 01 ổ cắm điện; 11,2 mét dây điện màu vàng; 01 phích cắm điện; 7,5 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 6.0 (7/1,04)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 78 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 4.0 (7/0,85)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 197 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 2.5 (7/0,67)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 353 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 1.5 (7/0,52)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 30 mét dây cáp mạng màu xanh ký hiệu “6UTP23AWG4” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 01 kéo cắt; 01 đèn pin đeo đầu.

Đối với tài sản là Dây cáp điện loại dây đôi màu xanh đường kính dày 0,7cm, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Do không có đầy đủ thông tin về đặc điểm pháp lý, kinh tế - kỹ thuật của tài sản thẩm định giá như quy cách, năm sản xuất, hình ảnh nên Hội đồng định giá tài sản quận không có cơ sở để định giá tài sản nói trên

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 41/CT-VKSCL ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Đào Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng:

2

Đối với tài sản trộm cắp, Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Nhất H và ông Nguyễn Văn Đ là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận.

Đối với 01 cái kéo cắt và 01 đèn pin đeo đầu mà Đào Văn T dùng để thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Đào Văn T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông H và ông Đ số tiền 1.000.000 đồng. Ông H và ông Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng là bị cáo vô cùng ân hận về hành vi của mình, và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của các cơ quan và người tiến hành tố tụng

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng thu hồi được, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an quận C đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Để có tiền tiêu xải cá nhân mà không phải lao động, khoảng 04 giờ 30 phút ngày 11/11/2023, tại số nhà A và A M, H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Đào Văn T đã có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện để lén lút đột nhập vào công trình xây dựng của ông Trần Nhất H và ông Nguyễn Văn Đ và chiếm đoạt số tài sản có trị giá 4.396.000 đồng của ông H và ông Đ. Hành vi của bị cáo Đào Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật

3

Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định. Tuy nhiên, vì động cơ vụ lợi, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã bất chấp hậu quả, coi thường pháp luật, nhiều lần thực hiện trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn quận C, tp .. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và thể hiện sự liều lĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an.

Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường cho các bị hại; do đó, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự trong quá trình quyết định hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự quản lý, giáo dục của chính quyền địa phương, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với tài sản trộm cắp gồm: 16 mét dây diện màu xanh có đường kính 0,7cm; 01 ổ cắm điện; 11,2 mét dây điện màu vàng; 01 phích cắm điện; 7,5 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 6.0 (7/1,04)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 78 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 4.0 (7/0,85)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 197 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 2.5 (7/0,67)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 353 mét dây điện hiệu Cadavi ký hiệu “CV 1.5 (7/0,52)” bị cắt đứt thành nhiều đoạn; 30 mét dây cáp mạng màu xanh ký hiệu “6UTP23AWG4” bị cắt đứt thành nhiều đoạn. Cơ quan điều tra trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu là ông Trần Nhất H và ông Nguyễn Văn Đ là có căn cứ nên chấp nhận.

4

- Đối với 01 cái kéo cắt và 01 đèn pin đeo đầu là tài sản của Đào Văn T và được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Đào Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Đào Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục. Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú phải thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cái kéo cắt và 01 đèn pin đeo đầu của bị cáo T.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSCL ngày 08/4/2024 của VKSND quận Cẩm Lệ, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024)

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND tp. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Cẩm Lệ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp tp. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Hữu Hưng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn Bình Quang, xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger