Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST

Ngày 02/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Hoàng Thị Hải.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền, bà Đỗ Thị Lan
  • Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Thịnh, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Lương Minh Nghĩa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thị T, tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày 01/8/1983 tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; không có chồng; có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú ngày 28/12/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

*/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị V, sinh năm: 1961, nơi cư trú: tổ C, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

*/ Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị Y - Sinh năm: 1969. Nơi cư trú: tổ E, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị Đ - Sinh năm 1992. Nơi cư trú: khu C, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  3. Anh Lê Văn T1, sinh năm: 1984,. Nơi cư trú: tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị NNguyễn Thị H là bạn bè xã hội. Khoảng đầu tháng 4/2018, NH tổ chức đánh bạc tại nhà riêng của H ở tại tổ H, khu H, phường C, thành phố C. N rủ rê, lôi kéo người khác đến nhà H đánh bạc, thu tiền của mỗi người chơi từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, rồi chia nhau mỗi người một nửa. H chuẩn bị 01 phòng ở tầng 2 nhà H, 01 tấm vải lót sàn, 02 tấm vải đệm và 01 hộp bài tú lơ khơ, gồm 10 bộ bài để cho những người chơi đánh bạc.

Khoảng 14 giờ ngày 12/4/2018, Bùi Thị T cùng Trần Thị Y đi taxi, rủ nhau đến nhà H để đánh bạc. Lúc này, tại tầng 2 nhà HNguyễn Thành T2, Đào Thị Ánh T3, Nguyễn Thị Mai H1, Lê Văn T1, sau đó có thêm một số người rải rác đến, rồi lên tầng 2 nhà H gồm: Lương Thị Hoài T4, Lương Thị Thúy H2, Vũ Quang H3, Nguyễn Thị T5, Đoàn Thị Đ1, Kim Thị L, Vũ Thị V1, Nguyễn Thị G, Nguyễn Văn C1 cùng Nguyễn Thị Đ, Lê Đình N1, Hoàng Thị H4, Nguyễn Thị Diễm . Sau khi đã có đông người đến, thì T3, H1, L, V1, H3, T1, T2, T4, YH4 đã dùng 01 bộ bài tú lơ khơ do N chuẩn bị sẵn để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “liêng”. Cả nhóm ngồi vòng tròn và thống nhất cách thức đánh “liêng” như sau: Ván đầu tiên người chơi đánh trước sẽ được chọn ngẫu nhiên, từ ván thứ 2 trở đi người thắng ván trước sẽ là người cầm chương. Mỗi ván, người chơi chính đều đặt 50.000 đồng vào giữa chiếu bạc gọi là tiền “góp gà” và có thể đặt tiền cược bài mình với bài của người cầm chương (người chia bài) gọi là “chống cửa”, mức tiền từ 100.000 – 500.000 đồng. Sau khi người chơi tham gia đánh bạc đặt tiền “góp gà” và “chống cửa” xong, người cầm chương sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, chia cho những người chơi chính, mỗi người 03 quân bài, rồi những người này tự xem bài của mình đã được chia mà không để lộ cho người chơi cùng biết. Nếu thấy 03 quân bài của mình thấp điểm thì người chơi cầm bài đó úp bài và chấp nhận thua mất số tiền “chống cửa” cho người cầm chương. Sau khi chia bài, người chơi chính được quyền đặt thêm tiền cược với những người cùng chơi gọi là “tố”. Khi tất cả đã tố xong và thống nhất lật bài theo thứ tự chiều kim đồng hồ từ người cầm chương đến người cuối cùng. Người thắng sẽ được toàn bộ số tiền của người chơi đã đặt “góp gà”. T1, thua được xác định theo thứ tự cao thấp trong bài lần lượt là: “sáp” gồm ba quân bài lá bài có số giống nhau, theo thứ tự cao thấp, là “A, K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2”; “liêng đồng chất” tức là 03 quân bài của người chơi có thứ tự liền kề nhau cùng một chất; “liêng” là 03 quân bài liền nhau; “tranh ảnh” là 03 quân bài hình đầu người không liền và giống nhau; “tổng 9” tức là tính điểm tổng của ba quân bài cộng lại, có hàng đơn vị là 9. Thứ tự tính điểm tổng từ 9 thấp dần về 0, quân bài 10 hoặc quân bài hình đầu người (J, Q, K) được tính bằng 0. Nếu quân bài giống hoặc tổng điểm bằng nhau thì sẽ lấy chất trong 03 quân bài để so sánh với nhau, lần lượt chất từ cao xuống thấp là “Rô – Cơ – Tép – B”, lần lượt theo thứ quân bài từ cao đến thấp là “A, K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2”. Khi cả nhóm chơi, thì Bùi Thị T ngồi phía sau những người chơi chính, tham gia đánh bạc dưới hình thức ké cửa, bằng cách thông qua bài của những người chơi chính. Quy định của người ké cửa: đặt cược tiền “chống cửa” với người cầm chương, số tiền mỗi lần đặt từ 50.000 – 100.000 đồng, không được “góp gà” và “tố”. Nếu bài đặt ké cửa của người chơi chính lớn hơn bài của người cầm chương thì người cầm chương phải trả số tiền tương ứng với số tiền đã đặt cược, người thua bị mất số tiền cược hoặc ngược lại. Còn các chị Nguyễn Thị Đ, Hoàng Thị H4, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Đ1 và anh Lê Đình N1 không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem.

Trong quá trình đánh bạc, N thu tiền hồ của những người chơi, mức thu: người chơi chính là 100.000 đồng, người chơi ké cửa là 50.000 đồng để trả tiền địa điểm và tiền dụng cụ đánh bạc gọi là tiền “hồ”. N thu được 800.000 đồng tiền hồ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc, thì bị Công an thành phố C kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: thu tại chiếu bạc 17.670.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng gồm 52 quân bài; 05 bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng; 01 tấm vải lót sàn; 02 tấm vải đệm. Thu của: N 1.000.000 đồng (trong đó có 800.000 đồng tiền hồ), Y 4.500.000 đồng, H1 4.400.000 đồng, T3 7.800.000 đồng, L 600.000 đồng, T số tiền 6.800.000 đồng, Đ1 1.200.000 đồng, T5 3.000.000 đồng; còn thu của N, Y, H1, T3, L, Đ1, T5, T2, H4, T4, H3, T1, C1, T mỗi người 01 điện thoại; H 02 chiếc điện thoại và T 01 túi xách. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H, thu giữ: 01 vỏ hộp giấy loại đựng 10 bộ bài tú lơ khơ, 136 quân bài đã qua sử dụng; 01 hộp giấy bên trong có 03 bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng. Sau khi phạm tội Bùi Thị T bỏ trốn, đến ngày 28/12/2023 ra đầu thú.

Đào Thị Ánh T3, Vũ Quang H3, Nguyễn Thị Mai H1, Lê Văn T1, Trần Thị Y, Lương Thị Hoài T4, Nguyễn Thành T2, Lương Thị Thúy H2, Vũ Thị V1, Kim Thị L, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Văn C1, Đoàn Thị Đ1 còn khai đều mang tiền đi đánh bạc, số tiền Công an thu giữ của Y, H1, T3, L, Đ1, T5 là tiền đang dùng để đánh bạc. Còn T khi đánh bạc có 4.000.000 đồng, quá trình chơi thắng 2.800.000 đồng bị Công an thu giữ 6.800.000 đồng là tiền đang đánh bạc. Riêng số tiền N bị thu giữ trong đó có 800.000 đồng là tiền hồ của NH, còn 200.000 đồng là tiền của N. Như vậy, tổng số tiền T và các đồng phạm đánh bạc là 46.770.000 đồng (gồm tiền thu dưới chiếu 17.670.000 đồng, tiền thu được của những người tham gia đánh khi bị bắt quả tang là 28.300.000 đồng và 800.000 đồng tiền thu lợi bất chính).

Quá trình điều tra, ngoài việc khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên T khai thêm: Ngày 11/4/2018, T được biết N có tổ chức xới bạc tại nhà H, nên đi đến nhà H thì được N dẫn lên phòng tầng 2 nhưng do không đủ người chơi nên N có hẹn là chiều ngày 12/4/2018. Đến khoảng 14 giờ ngày 12/4/2018, khi T đi cùng Y trên xe taxi, T rủ Y đến nhà H đánh bạc, Y đồng ý. T là người chơi ké cửa thông qua bài của T1. Từ tháng 4/2018 đến tháng 10/2018, T ở tại địa phương. Đến cuối tháng 10/2018, T bắt xe khách đến cửa khẩu M và được 01 người không quen biết đưa nhập cảnh vào Hồ N - Trung Quốc sinh sống, T không vi phạm pháp luật gì.

Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua các lời khai của:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị V tuy vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng đều có lời khai tại Cơ quan điều tra như sau: Ngày 12/4/2018 T có mượn V (V là mẹ T) một chiếc túi xách giả da màu đen không có quai đeo không có nhãn hiệu để đựng đồ. Ngày 29/2/2024 cơ quan Công an trả cho chị V 01 chiếc túi xách không có quai đeo.

Những người làm chứng: chị Trần Thị Y, chị Nguyễn Thị Đ, anh Lê Văn T1. Tuy vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng đều có lời khai tại Cơ quan điều tra như sau; chị Y có lời khai thể hiện: khoảng 14 giờ ngày 12/4/2018, chị YT cùng đi taxi ra chợ C2, phường C để mua đồ may quần áo. và T nói cho chị Y biết việc T đi đánh bạc tại nhà H thì chị Y đồng ý cùng T đến nhà H đánh bạc. Tại nhà H, do cửa đóng nên chị Y gọi điện cho N ra mở cửa, N dẫn YT lên phòng tầng 2. Y nhìn thấy khoảng người 15 người đang ngồi quây vòng tròn trên tấm thảm trải sẵn ở nền nhà, những người khác ngồi rải rác ở ghế đằng sau. Y ngồi quây tròn cùng mọi người, Y sử dụng 3.300.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi Y thắng và bị thu giữ 4.500.000 đồng. Khi đánh bạc, do mải tập trung vào những người chơi chính, Y nhìn thấy T đánh bạc qua hình thức ké cửa bài của người chơi chính, không biết T đặt cược ké cửa bài của ai; chị Đ có lời khai thể hiện: khoảng 15 giờ ngày 12/4/2018, chị Đ cùng anh Nguyễn Văn C1 đến nhà H để đóng tiền vay lãi cho chị H. Khi đến nơi thì thấy đông người đang đánh bạc, được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh liêng Chị nhìn thấy T đang cầm tiền trên tay để đặt ké cửa người chơi chính, được nghe mọi người gọi tên là T1. T không đặt cược ké cửa bài của những người chơi chính nào khác; anh T1 có lời khai thể hiện: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/4/2018, anh T1 được N gọi điện thoại rủ đến nhà H để đánh bạc. Khi đến nơi thì thấy nhìn thấy khoảng 15 người đang ngồi quây vòng tròn trên tấm thảm trải sẵn ở nền nhà, những người khác ngồi rải rác ở ghế đằng sau. T1 ngồi quây tròn cùng mọi người, T1 sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng và bị thu giữ 7.500.000 đồng ở dưới chiếu bạc. T1 không để ý có ai đặt ké cửa bài của mình không.

Đối với Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H, Đào Thị Ánh T3, Vũ Quang H3, Nguyễn Thị Mai H1, Lê Văn T1, Trần Thị Y, Lương Thị Hoài T4, Nguyễn Thành T2, Lương Thị Thúy H2, Vũ Thị V1, Kim Thị L, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Văn C1, Đoàn Thị Đ1 đã bị xét xử và các vật chứng đã được xử lý theo Bản án sô 09/2019/HS-ST ngày 22/01/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả. Còn 01 điện thoại Nokia và 01 túi xách màu đen của Bùi Thị T, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSCP ngày 18 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Bùi Thị T về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị T về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Bùi Thị T cho UBND phường C, thành phố C giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thị T phù hợp với lời khai của các bị cáo khác tại hồ sơ, của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/4/2018, tại nhà riêng của Nguyễn Thị Htổ H, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị NH đã có hành vi sử dụng tầng 2 nhà của H tổ chức cho Bùi Thị T và 13 người khác đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức liêng, với tổng số tiền đánh bạc là 46.770.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Bùi Thị T về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Hành vi của bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi đánh bạc của bị cáo là coi thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương, gây mất trật tự trị an xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội và bất bình trong nhân dân. bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền của bị cáo mục đích để kiếm lời. Nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, hám lợi bất chính, nên bị cáo đã tham gia nơi tụ tập rất đông người hành vi đánh bạc bằng hình thức “đánh liêng” được thua bằng tiền thể hiện coi thường pháp luật của bị cáo. Sau khi bị phát hiện bị cáo đã bỏ trốn tại địa phương đến ngày 28/12/2023 bị cáo đầu thú. Chính vì vậy, cần thiết phải xử lý hành vi bị cáo trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo Đào Thị Ánh T3, Nguyễn Thị Mai H1, Lê Văn T1, Nguyễn Thành T2, Vũ Thị V1, Vũ Quang H3, Trần Thị Y, Lương Thị Thúy H2, Lương Thị Hoài T4, Kim Thị L, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị T5Đoàn Thị Đ1 đã được đánh giá vai trò tại bản án số 09/2019/HS-ST ngày 22/01/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả; còn Bùi Thị T tham gia đánh bạc dưới hình thức ké cửa nên xếp vai trò sau cùng.

[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước. Bị cáo có nhân thân tốt, là đồng phạm ở vai trò thứ yếu nên Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội, cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 BLHS có thể phạt bổ sung đối với bị cáo một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước, nhưng xét thấy bị cáo đều làm công việc tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Còn 01 điện thoại Nokia của bị cáo T và 01 túi xách màu đen là của bà Nguyễn Thị V do T mượn dùng xác định không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, nên không đề cập giải quyết.

[8] Đối với Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H, Đào Thị Ánh T3, Vũ Quang H3, Nguyễn Thị Mai H1, Lê Văn T1, Trần Thị Y, Lương Thị Hoài T4, Nguyễn Thành T2, Lương Thị Thúy H2, Vũ Thị V1, Kim Thị L, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Văn C1, Đoàn Thị Đ1 đã bị xét xử và vật chứng đã được xử lý theo Bản án số 09/2019/HS-ST ngày 22/01/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nên không đề cập.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Bùi Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Bùi Thị T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (02/5/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 27A/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 09/3/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 39A/ 2024/QĐ-TA ngày 09/3/2024 đối với bị cáo Bùi Thị T.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Thị T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - VKSND TP Cẩm Phả;
  • - Cơ quan CSĐT CATP Cẩm Phả;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự TP Cẩm Phả;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA dân sự TP Cẩm Phả;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự tội đánh bạc

  • Số bản án: 47/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Thuỷ 'Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger