|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số:47/2024/HS-PT Ngày: 13-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Hải.
Các thẩm phán: Ông Vũ Văn Túc và ông Đinh Trường Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 72/2024/TLPT-HS ngày 01/11/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Văn S. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Văn S đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 130/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Các bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:
1. Nguyễn Thị T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/12/1980 tại Kon Tum; nơi cư trú: Tổ I, phường P, TP H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định (bố dượng: Nguyễn Duy N, sinh năm 1950) và bà Trần Thị G, sinh năm 1955; chồng: Nguyễn Tuấn Đ (đã chết) có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2004; bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 24/12/2018 bị Công an phường T xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 43/QĐ – XPVPHC. Xác minh người bị xử phạt không đủ điều kiện thi hành quyết định do điều kiện kinh tế khó khăn.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 đến nay, có mặt.
2. Phạm Văn S, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/7/1983 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ E, phường Đ, TP H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn S1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị S2, sinh năm 1953; vợ đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2017; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền sự: không.
Có 01 tiền án: Ngày 26/10/2022 bị TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 87/2022/HSPT. Đã chấp hành xong ngày 08/02/2024.
Nhân thân: Ngày 26/4/2017 bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong ngày 08/5/2017.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn S và Nguyễn Thị T là bạn bè xã hội. Khoảng 18 giờ ngày 07/5/2024 T gọi điện cho S nói “Hết ma túy rồi, có chỗ nào mua ma túy không” S trả lời tối báo lại sau. Sau đó S đi cùng đến uống bia ở khu vực đê thuộc phường Đ, tại đây S mượn xe của T1 đi đến khu vực B thành phố H, sau khi hỏi được chỗ mua ma túy, S gọi điện cho T và hẹnqua nhà T lấy tiền. T đưa cho S 6.000.000 đồng. S cầm tiền ra khu vực bến xe trung tâm TP H mua ma túy loại hồng phiến của một người đàn ông không quen biết với số tiền là 8.000.000 đồng (trong đó 6.000.000 đồng của T và 2.000.000 đồng là tiền của S). Sau khi mua ma túy S quay lại nhà T. Tại đây, S tự chia ma túy làm 2 phần theo ước lượng tiền góp, S cất phần ma túy của mình vào bao thuốc lá Thăng Long, phần còn lại đưa cho T. Sau đó S gọi taxi đưa đến khu vực đầu dốc chuyên gia, phường H. Khi đi đến tổ I, phường H, TP H thì bị tổ công tác Công an T kiểm tra bắt quả tang và thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 02 túi loại túi zip, một túi chứa 05 viên màu hồng và một túi chứa 32 viên màu hồng. Sau khi bị bắt S khai nhận đây là số ma túy S vừa góp tiền cùng Thu mua về sử dụng và bán kiếm lời. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành lệnh khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị T, thu giữ 78 viên nén màu hồng, 10 gói nilon chứa chất bột dạng cục màu trắng; 02 điện thoại di động và số tiền 13.410.000 đồng. Tại cơ quan điều tra T khai nhận 78 viên nén màu hồng là mà túy S mua, còn 10 gói nilon chứa chất bột dạng cục màu trắng Thu mua của một người đàn ông không quen biết.
Khối lượng ma túy thu giữ S là 3,45g ma túy loại Methamphetamine.
Khối lượng ma túy thu giữ của T là 9,58g trong đó 7,35g là Methamphetamine và 0,28 g là heroin.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 130/2024/HS - ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã quyết định:
Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2024.
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/10/2024 bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/10/2024 bị cáo Phạm Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm.
Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình trình bày quan điểm:
Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.
Về nội dung: Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cá thể hóa vai trò của từng bị cáo và xử phạt bị cáo Phạm Văn S 10 năm tù và Nguyễn Thị T chín năm tù vì tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo S không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo S.
Bị cáo thu cung cấp các tài liệu chứng cứ là biên lai nộp 2.000.000 đồng ủng hộ quỹ người nghèo, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn bị cáo không biết chữ, là lao động chính phải hỗ trợ nuôi dưỡng mẹ già. Bị cáo có tiền sử bệnh lao phổi, hiện đang bị ho, đau tức ngực, đã uống thuốc nhưng chưa giảm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo thu, do đó có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo thu.
Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn S.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 130/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Văn S trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định: Chiều tối ngày 07/5/2024 Phạm Văn S nhận của Nguyễn Thị T 6.000.000 đồng và góp 2.000.000 đồng (tổng cộng là 8.000.000 đồng) đi mua ma túy loại Methamphetamin của người đàn ông không quen biết tại khu vực B thành phố H. Sau khi mua được ma túy, S gọi điện cho T và đến nhà T. Tại đây S chia Ma túy thành 02 túi ước lượng số lượng ma túy tương ứng với số tiền góp. S cất một túi và đưa cho T một túi. Sau đó S đi về phía phường H thì bị bắt quả tang với số lượng 37 viên nén màu hồng có trọng lượng 3,45g loại Methamphetamin. Khám xét tại nhà của Nguyễn Thị T cơ quan điều tra đã thu giữ 78 viên ma túy có trọng lượng 7,35g loại Methamphetamin và 10 gói ly lon ma túy dạng bột có trọng lượng 0,28g loại heroin. Các bị cáo khai nhận mua ma túy với mục đích để bán kiếm lời.
Tổng khối lượng ma túy bị cáo T phải chịu trách nhiệm là 9,58g ma túy M và H. Bị cáo S phải chịu trách nhiệm là 10,8g Methamphetamin trong đó 3,45g ma túy bị thu giữ và 7,35g ma túy mua hộ T. Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn S, HĐXX nhận thấy:
Nhân thân bị cáo S đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng tiếp đó bị cáo lại tiếp tục phạm tội và bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị cáo là người giữ vai trò chính, là người trực tiếp mua ma túy để sử dụng bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, tích cực trong việc cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị T bán cho người khác, khi chia ma túy bị cáo S lấy số lượng ma túy nhiều hơn số tiền đã góp. Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như vai trò của bị cáo, xử phạt bị cáo S 10 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn S.
[4]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị T.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự,
Tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình xét xử sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cấp sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như vai trò của bị cáo để quyết định hình phạt 9 năm tù hình và phạt bổ sung là 10.000.000đ đối với bị cáo là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo T, HĐXX thấy: Bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, không trực tiếp đi mua ma túy và được chia phần ma túy ít hơn. Về hình phạt bổ sung đã được xử lý đối trừ khoản tiền tạm giữ. Bị cáo lần đầu phạm tội, không có tiền án, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các tài liệu như: Đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có 01 con trai tham gia nghĩa vụ quân sự. Bản thân bị cáo không được đi học, không biết chữ nên nhận thức, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, Chồng bị cáo chết sớm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải trợ cấp nuôi dưỡng mẹ già thường xuyên ốm đau; Bị cáo tích cực đóng góp ủng hộ người nghèo tại địa phương có Biên lai xác nhận của chính quyền địa phương. Trại tạm giam Công an tỉnh H thông báo tình trạng sức khỏe của bị cáo T có tiền sử mắc bệnh lao phổi hiện tại bị ho, đau tức ngực, đã uống thuốc nhưng chưa thuyên giảm, đang tiếp tục điều trị. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Do đó có căn cứ giảm mức hình phạt đã tuyên cho bị cáo T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình về phần hình phạt đối với bị cáo T.
[3]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bị cáo Nguyễn Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Phạm Văn S phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ Luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn S.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ Luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số130/2024/HS - ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị T, cụ thể:
- Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, điều 38, điều 58 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 7 (bẩy) năm, 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2024.
- Bị cáo Nguyễn Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Phạm Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc phẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 13/12/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hải |
Bản án số 47/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 47/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu, Phạm văn Sơn phạm tội mua bán ma túy
