Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/10/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hưng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tiệm

2. Ông Lê Thiết Hùng

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Văn Tứ-Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòatham gia phiên tòa: Bà Đinh Phương Mai - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/7/2024về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 và theo quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QÐST - HNGĐ ngày 28/9/2024 của Hội đồng xét xử giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Chu Thị Phương H - sinh năm 1996;

Bị đơn: Anh Trần Quốc V - sinh năm 1992;

Đều có địa chỉ: Khu A xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Phòng G huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Do ông Nguyễn Văn H1 - Giám đốc -Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện G, tỉnh Phú Thọ đại diện.

(Chị H có mặt, anh V vắng mặt lần thứ hai, đại diện cho Ngân hàng G ông Nguyễn Văn H1 có văn bản đề nghị xin được vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khaitrong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Chu Thị Phương H2 bày:

Tôi và anh Trần Quốc V1 hôn ngày 08/7/2014hoàn toàn tự nguyện và được U, huyện H, tỉnh Phú Thọ đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn tôivềlàm dâu ngay gia đình nhà anh V, ăn ở chungcùng gia đình và lao động tự do.Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúcđến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn,nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung do đó vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2022. Nay tôixác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ với nhau được nữa nên tôixin được ly hôn anh V2 giải phóng cho bản thân.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 02 con chung cháu Trần Quốc P, sinh ngày 08/3/2015 và cháu Trần Khánh H3, sinh ngày 29/10/2016. Ly hôn tôi xin được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi.

Về tài sản chung: Tôi không đề nghị tòa án giải quyết gì.

Về công nợ: Tôi xác định vợ chồng còn nợ của Ngân hàng chính sách xã hội huyện G 90.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh cho đến nay. Ly hôn tôi đề nghị cả hai người phải có nghĩa vụ trả số nợ gốc và tiền lãi phát sinh trên cho Ngân hàng.

Về công sức đóng góp: Tôi không yêu cầu gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng chính sách xã hội huyện G do ông Nguyễn Văn H1 - Giám đốc đại diện trình bày:

Ngày 12/01/2023Ngân hàng chính sách xã hội huyện H có cho hộ bà Chu Thị Phương H - khu 1 xã L, huyện H vay số tiền là 95.000.000đ chương trình cho vay hộ nghèo thời gian trả nợ cuối cùng ngày 12/10/2031, ngày 12/4/2024 hộ bà H đã trả bớt một phần nợ gốc số tiền là 5.000.000đ, như vậy số tiền gốc hộ bà H còn nợ là 90.000.000đ. Tính đến nay ngày 25/10/2024hộ bà H còn nợ tổng số tiền là 90.211.562 đồng trong đó 90.000.000đ tiền gốc và 211.562đ tiền lãi. Nay bà H và ông V giải quyết việc gia đình tại tòa án, ngân hàng đề nghị hộ bà H phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và thông báo nhiều lần anh Trần Quốc V3 trụ sở Tòa án để giải quyết việc chị H khởi kiện xin ly hôn, nhưng anh V đều vắng mặt không cólý do,mặc dùđã được Tòa án gửi giấy triệu tập và các thông báo hợp lệ do bà Trần Thị T và ông Trần Quốc T1 là bố, mẹ đẻ anh V nhận thay, ông T1 và bà T xác nhận đã nhận được các văn bản của tòa án gửi cho anh V, ông bà đã thông báo và giao các văn bản lại cho anh V. Anh V có nói lại là không muốn ly hôn, nếu chị H kiên quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí, tuy nhiên do công việc phải đi làm ăn xa, nên không thể đến tòa án để giải quyết việc ly hôn được và đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông T1 và bà T cho biết quá trình chung sống củaanh V và chị H hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân anh V nghi ngờ chị H có mối quan hệ bất chính với người khác, anh V bắt được những tin nhắn giữa chị H với người khác từ đó vợ chồng có xẩy ra xô sát, cãi chửi nhau, trong thời gian xẩy ra mâu thuẫn anh V vẫn đi làm ăn xa còn chị H cùng hai con ở tại nhà mà vợ chồng thuê, đến tháng 5/2024 chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở, còn anh V vẫn đi làm ăn xa các con của anh chị ở với ông bà cho đến nay.Chị H và anh V có hai con chung, hiện nay cả hai cháu vẫn ở với ông bà. Nếu anh chị phải ly hôn về con chung thì do anh chị tự quyết định còn ông bà không có ý kiến gì. Về tài sản chung: Anh V và chị H ăn ở cùng với gia đình nên không có tài sản gì.Về công nợ: Ông T1 và bà T cho biết vợ chồng còn nợ của Ngân hàng G xã hội huyện H tổng số tiền là 90.000.000đ. Nếu anh chị ly hôn thì đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình làm việc được UBND xã, công chức tư pháp, hội phụ nữ và trưởng khu hành chính khu 1 xã L, huyện H cho biết chị H và anh V là công dân khu 1 xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ đã kết hôn với nhau vào năm 2014. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống với bố mẹ đẻ anh V được một thời gian vợ chồng đi thuê nhà ra ăn ở riêng. Quá trình chung sống của anh chị lúc đầu hòa thuận hạnh phúc, anh V thường xuyên đi làm ăn xa, còn chị H ở nhà làm ăn tự do chăm sóc hai con. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn, nhưng trầm trọng như thế nào địa phương không nắm rõ mà chỉ biết khoảng tháng 5/2024 chị H bỏ về nhà mẹ đẻ để ở và sinh sống còn anh vinh vẫn đi làm ăn xa, hai con của anh, chị ở với ông bà nội. Nay chị H có đơn xin ly hôn quan điểm của chính quyền địa phương cùng các ban ngành đoàn thể đề nghị tòa án căn cứ vào điều kiện thực tế, tình trạng hôn nhân của vợ chồng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật đảm quyền lợi cho cả hai bên đương sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa có quan điểm giải quyết vụ án như sau:

* Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 - BLTTDS. Bị đơn chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 70, 72 - BLTTDS.

* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57,58, 81, 82 và Điều83Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2Điều 227 vàkhoản 1, 3Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Chu Thị Phương H được ly hôn anh Trần Quốc V.

Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cho chị Chu Thị Phương H trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Trần Quốc P, sinh ngày 08/3/2015 và cháu Trần Khánh H3, sinh ngày 29/10/2016, anh Trần Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.

Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.

Về công nợ: Đề nghị buộc chị Chu Thị Phương H và anh Trần Quốc V mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ số nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện H theo quy định của pháp luật.

Về công sức đóng góp: Đề nghị không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí cho chị Chu Thị Phương H4 anh Trần Quốc V theo quy định của pháp luật do là hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của nguyên đơnHội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tranh chấp giữa chị Chu Thị Phương H và anh Trần Quốc V4 tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Các đương sự đều có nơi cư trú tại xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập chị Chu Thị Phương H và anh Trần Quôc V5 đến Tòa án để làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục chung của pháp luật, chị H đều có mặt, cònanh V5 vắng mặt không có lý do mặc dù các văn bản của Tòa án anh V5 đã nhận được. Vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Ngày 13/9/2024Tòa án ban hànhquyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 28/9/2024, quyết định này đã được giao cho chị H, Tòa án tiến hành giao quyết định cho bố, mẹ đẻ anh V5, bố mẹ anh V5 cam kết sẽ thông báo và sẽ chuyển đến tận tay anh V5, đến ngày xét xử chị H có mặt, còn anh V5 vắng mặt không có lý do.HĐXX Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa căn cứ vào khoản 1 Điều 227 - BLTTDS ra quyết định hoãn phiên tòa theo quy định chung của pháp luật và ấn định ngày xét xử trong Quyết định hoãn phiên tòa đồng thời tiến hành giao quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay chị H có mặt, anh V5 vắng mặt lần thứ hai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 - Giám đốc ngân hàng chính sách xã hội huyện G có văn bản đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xửvắng mặt anh V6 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Chu Thị Phương H và anh Trần Quốc V kết hôn với nhau vào ngày 08/7/2014, đây là một hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúcđến tháng 01/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị H cho rằng do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ngoài ra anh V nghi ngờ chị H đi quan hệ bất chính với người khác do đó anh, chị đã sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ, không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ với nhau được nữa, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V để giải phóng cho bản thân. Xét lời trình bày của chị H5 có căn cứ chấp nhận,vìchị H và anh V đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ, không quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án anh V không có mặt tại tòa án để tham gia các phiên họp, phiên hòa giải để bày tỏ quan điểm của mình, mặc dù anh V7 biết việc chị H đang xin ly hôn và đang được Tòa án huyện Hạ Hòa giải quyết, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có các văn bản gửi cho anh V2 đến tòa giải quyết việc chị H xin ly hôn, anh V đã nhận được đầy đủ thông qua bố mẹ đẻ anh, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử chochị H được ly hôn anh V4 phù hợp quy định tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị H6 định vợ chồng có 02 con chung cháu Trần Quốc P, sinh ngày 08/3/2015 và cháu Trần Khánh H3, sinh ngày 29/10/2016.Hiện nay các cháu mặc dù đang ở với ông bà nội, nguyện vọng của cả hai cháu xin được ở với bố và ông bà nội, tuy nhiên cha mẹ phải có nghĩa đối với con chung, hiện nay anh V vắng mặt do đó không thể giao các cháu cho ông bà nuôi dưỡng được, ý kiến của các cháu chỉ là ý kiến tham khảo.Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh V đều không có mặt để bày tỏ quan điểm của mình về nuôi dưỡng con chung, do anh V vắng mặt, nên cần giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu là phù hợpquy định của pháp luật, anh. Sau ly hôn anh V có mặt có yêu cầu thì tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[4] Về tài sản chung: Chị H7 đề nghị tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án chưa làm việc được với anh V8 mối quan hệ này, nên không đặt ra giải quyết. Sau ly hôn anh V có mặt, các bên có tranh chấp và có yêu cầu thì tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác.

[5] Về công nợ: Lúc đầu chị H không đề nghị giải quyết, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H xác định vợ chồng còn nợ của Ngân hàng chính sách xã hội huyện G 90.000.000đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Ly hôn quan điểm của chị H đề nghị hai người phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ trên cho ngân hàng. Đại diện cho ngân hàng cũng xác nhận tính đến hết ngày 25/10/2024 hộ bà H còn nợ tổng số tiền là 90.211.562đ trong đó 90.000.000đ tiền gốc và 211.562đ tiền lãi và đề nghị hộ bà H phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi phát sinh cho ngân hàng theo quy định. HĐXX xét thấy trong việc vay vốn của Ngân hàng anh Trần Quốc V có văn bản ủy quyền cho chị H đứng ra vay, do đó khoản nợ này được xác định là khoản nợ chung của cả hai vợ chồng, nên cần buộc chị H và anh V phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng chính sách xã hội huyện G cả tiền gốc và tiền lãi là phù hợp.

[6] Về án phí: Tại phiên tòa chị Chu Thị Phương H8 cấp cho Tòa án giấy chứng nhận hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, do đó HĐXX xem xét miễn toàn bộ án phí cho chị H và anh V là phù hợp vớiđịnh của pháp luật.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và Điều83Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227,khoản 1, 3Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự;Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Chu Thị Phương H được ly hôn anh Trần Quốc V.
  2. Về con chung: Xử giao cho chị Chu Thị Phương H được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháuTrần Quốc P, sinh ngày 08/3/2015 và cháu Trần Khánh H3, sinh ngày 29/10/2016 kể từ tháng 10/2024 cho đến khi các cháu thành niên. Anh Trần Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H9 chị H không yêu cầu.

    Chị H và anh V đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chungvà công sức đóng góp: HĐXX không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
  4. Về công nợ: Buộc chị Chu Thị Phương H phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện G 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu) tiền gốc và 105.781đồng (Một trăm linh năm nghìn bẩy trăm tám mươi mốt đồng) tiền lãi, đồng thời phải trả tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc tính từ ngày 26/10/2024 cho đến khi tất toán xong với ngân hàng chính sách xã hội huyện G.

    Buộc anh Trần Quôc V5 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện G 45.000.000₫ (Bốn mươi lăm triệu) tiền gốc và 105.781đồng (Một trăm linh năm nghìn bẩy trăm tám mươi mốt đồng) tiền lãi, đồng thời phải có nghĩa vụ trả tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc tính từ ngày 26/10/2024 cho đến khi tất toán xong với ngân hàng chính sách xã hội huyện G.

  5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho chị Chu Thị Phương H và anh Trần Quốc V do là hộ nghèo. Hoàn lại cho chị Chu Thị Phương H 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0003026 ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Anh V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Ông H3) vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao, nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hạ Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Hạ Hòa;
  • - UBND xã L;
  • - Lưu HS - VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Hưng Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Chu Thị Phương H và anh Trần Quốc V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger