TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lan Hương.
- Ông Lê Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thảo Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Bảng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 522/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1977; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/10/2023, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông kết hôn năm 1997, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ. Đến năm 2000 do kinh tế gia đình khó khăn nên vợ ông đã từ Đ ra thôn P, huyện Đ làm việc, sau thời gian làm việc 06 tháng thì vợ ông tự ý bỏ đi cho đến nay không có tin tức gì. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin ly hôn với bà Phan Thị H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Cao T, sinh ngày 05/01/1996 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/01/1998. Hiện nay các con chung đã thành niên, ông không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông C không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn bà Phan Thị H đã được triệu tập đến Tòa án để làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ nhưng bà Phan Thị H không có mặt tại địa phương và đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng tuyên bố mất tích nên không tiến hành làm việc được.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với các nội dung: Về quan hệ hôn nhân; yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị H. Về con chung; Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng:
Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết đúng theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách tố tụng theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự; trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại Điều 208 đến Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, cho ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị H được ly hôn. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: ông Nguyễn Văn C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và bị đơn bà Phan Thị H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: vợ chồng ông Nguyễn Văn C bà Phan Thị H kết hôn năm 1997, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2000, do kinh tế gia đình khó khăn nên bà Phan Thị H đến thôn P, thị trấn L huyện Đ làm ăn. Thời gian làm việc được 06 tháng thì bà Phan Thị H tự ý bỏ đi cho đến nay không có tin tức gì. Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên bố bà Phan Thị H mất tích theo quyết định số 08/2023/QĐ-ST-VDS ngày 27/7/2023. Nay ông Chính xác Đ tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin ly hôn với bà Phan Thị H. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị H đã trầm trọng, thời gian vợ chồng không chung sống với nhau đã 20 năm. Mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân thực tế giữa ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị H không còn tồn tại. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn C là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
[3] Về con chung: Vợ chồng ông Nguyễn Văn C bà Phan Thị H có 02 con chung tên Nguyễn Cao T, sinh ngày 05/01/1996 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/01/1998. Hiện nay các con chung đã thành niên, ông Nguyễn Văn C không yêu cầu giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: ông Nguyễn Văn C không yêu cầu giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà Phan Thị H không có văn bản ý kiến về việc giải quyết tài sản. Nếu sau này bà Phan Thị H có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng thì bà Phan Thị H có quyền làm đơn yêu cầu giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án Dân sự khác.
[5] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu xin ly hôn nên ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, 58, 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, 220, 227, 264, 266, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị H được ly hôn.
- Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0002274 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng. Ông Nguyễn Văn C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Anh Tuấn |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn C và bà Phan Thị H được ly hôn. 2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0002274 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng. Ông Nguyễn Văn C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
