Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN. TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:47/2024/DSST

Ngày: 28/09/2024

V/v:Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Văn Xuất
Bà Nguyễn Thị Hải Yến

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội: ông Nguyễn Minh Tháp - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số:202/TLST- DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất ”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 76/QĐXX-ST ngày 21 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim K, sinh năm 1970
    Địa chỉ: thôn V, xã P, H.S, thành phố Hà Nội.
  • * Bị đơn: Bà Lê thị L, sinh năm 1971
    Địa chỉ: thôn V, xã P, H.S, thành phố Hà Nội.
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1962
    2. Anh Lê Xuân Đ1, sinh năm 1993
    3. Anh Lê Sơn T, sinh năm 2000
    4. Ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1969
    5. Chị Trịnh Thị Hoa M, sinh năm 2000
    6. Anh Trịnh Văn Q, sinh năm 1993

    Địa chỉ: thôn V, xã P, H.S, thành phố Hà Nội.

  • - Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị L là ông Trịnh Văn T1.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Kim K là Luật sư Lưu Ngọc T2 – Văn phòng luật sư Hoàng Gia T3.

(Có mặt ông T2, ông Đ, anh Đ1. Vắng mặt bà K, bà L, anh Q, chị M, ông T1.)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp sau cũng như tại phiên Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim K và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà K là Luật sư Lưu Ngọc T2 có ý kiến trình bày như sau:

Nguồn gốc thửa đất bà đang quản lý, sử dụng là được nhận tặng cho từ bố mẹ bà là ông Nguyễn Duy T4 và bà Đàm Thị H, thửa đất có diện tích là 337m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2008. Sau khi nhận tặng cho, bà đã chuyển nhượng một phần đất cho ông Nguyễn Đăng C với diện tích là 112m². Diện tích còn lại thửa đất là 260m².

Diện tích còn lại đã được Sở Tài nguyên Môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2018, số vào sổ CS-SS 10224 đứng tên bà là Nguyễn Thị Kim K.

Vị trí đất của gia đình bà tiếp giáp tứ cạnh liền kề như sau:

  • Cạnh phía Đông tiếp giáp ngõ.
  • Cạnh phía Tây tiếp giáp đất nhà bà T5 và ông H1.
  • Cạnh phía Nam tiếp giáp nhà bà L và nhà ông C.
  • Cạnh phía Bắc tiếp giáp đất chị V.

Đất gia đình bà K sử dụng ổn định, có mốc giới và không có tranh tranh chấp gì với với 3 hộ liền kề.

Phần diện tích đất nhà bà tranh chấp với gia đình bà L là bức tường do gia đình bà L xây (khoảng năm 1995 - 1996). Khi xây tường, gia đình bà L không nói gì với gia đình bà, khi bà biết sự việc thì bức tường ranh giới đã được gia đình bà L xây xong, do tình cảm hàng xóm nên bà không có ý kiến gì.

Năm 2022 khi bà chuyển nhượng một phần đất cho ông C, bà có sang gặp bà L nói chuyện tình cảm và đặt vấn đề bà L tháo dỡ bức tường xây dịch sang khoảng 20cm nhưng bà L không đồng ý nên bà phải làm đơn ra UBND xã P. UBND xã đã hòa giải nhưng không thành nên bà đã khởi kiện bà L ra Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn buộc bà Lê Thị L phải trả lại cho bà 9m² đất đã lấn chiếm và tháo dỡ bức tường trên đất.

Sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định và đo đạc, định giá tài sản; Tòa án đã tiến hành công khai tài liệu chứng cứ bà đã làm đơn yêu cầu tiến hành kiểm tra lại hiện trạng hai thửa đất. Sau khi tự kiểm tra diên tích đất bà K đã rút lại yêu cầu và đồng ý với kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 24/4/2024; Tại phiên tòa Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Lưu Ngọc T2 đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào tài liệu chứn cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu của bà K, buộc bà L phải trả cho bà K diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả xem xét thẩm định và sơ đồ hiện trạng, đồng thời tháo dỡ bức tường trên diện tích đất lấn chiếm để trả lại đất cho bà K.

- Bị đơn bà Lê Thị L và ông Trịnh Văn T1 có ý kiến trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà K, bà không đồng ý.

Nguồn gốc thửa đất là do mẹ bà là cụ Nguyễn Thị Đ2 để lại đất cho bà theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 54/TTPCDS/2013 lập ngày 28/6/2023 tại Phòng C1.

Thửa đất được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 25/11/1996. Ngày 18/7/2013 UBND huyện S đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00843 đứng tên bà là Lê Thị L. Ngày 25/9/2013 bà đã làm Hợp đồng tặng cho tại Văn phòng C2 tặng cho em gái bà là Dương Thị L1 160m², diện tích còn lại là 273m². Tuy nhiện phần diện tích bà tặng cho em gái hiện nay gia đình bà vẫn đang sử dụng và giữa hai thửa chưa có ranh giới gì.

Năm 1999 gia đình bà chuyển về ở trên đất này. Về phần diện tích đất hiện nay bà K đang có yêu cầu gia đình bà trả lại và tháo dỡ bức tường ranh giới giữa hai nhà, quan điểm của bà như sau: Khi mẹ bà còn sống gia đình bà có xây bức tường trên làm ranh giới với gia đình bà K, khi xây hai gia đình không có tranh chấp gì. Khoảng năm 2016 khi gia đình bà có nâng cấp bức tường cao thêm để làm khu chuồng trại chăn nuôi, hai bên gia đình cũng không có tranh chấp gì. Nguyên nhân bà K làm đơn tranh chấp đất, khi bà K chuyển nhượng đất cho gia đình ông C có sang nói chuyện với gia đình bà đặt vấn đề xin 30cm đất nhưng gia đình bà không đống ý nên xảy ra tranh chấp.

Hiện trạng đất và công trình vẫn giữ nguyên từ khi xây năm 1999 đến nay, việc xây dựng tường bao và sử dụng đất giữa hai nhà đã ổn định, không có tranh chấp nên bà không đồng ý với yêu cầu của bà K.

Vị trí đất của gia đình bà hiện tiếp giáp tứ cạnh liền kề như sau:

  • Cạnh phía Đông tiếp đất chị L1.
  • Cạnh phía Tây tiếp giáp đất nhà bà T6.
  • Cạnh phía Nam tiếp giáp đường đi vào Đền G.
  • Cạnh phía Bắc tiếp giáp đất nhà bà K và một phần giáp đất ông C.

Hiện nay gia đình bà đang sinh sống trên đất gồm 04 nhân khẩu gồm hai vợ chồng bà cùng hai con, cụ thể là: Ông Trịnh Văn T1, bà Lê Thị L, anh Trịnh Văn Q, chị Trịnh Thị Hoa M. Hiện tại cháu M con gái bà đang là sinh viên trường Đại học N.

Bà xác nhận nguồn gốc đất và công trình trên đất do bà được nhận tặng cho riêng tài sản trên đất do vợ chồng bà gây dựng, nên là tài sản riêng của bà, cháu M và cháu Q không có công sức gì đóng góp gì vào khối tài sản của vợ chồng bà, vì hiện tại bà vẫn đang nuôi cháu M ăn học.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Lê Xuân Đ, anh Lê Xuân Đ1, anh Lê Sơn T đều thống nhất quan điểm của bà K và từ chối tham gia tố tụng.
  • Ông Trịnh Văn T1, anh Trịnh Văn Q đều thống nhất với quan điểm của bà L không chấp nhận yêu cầu đòi đất của bà K.

Đại diện VKS nhân dân huyện S phát biểu quan điểm:

  • Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng pháp luật quy định.

Thẩm phán, HĐXX sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  • Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Đại diện VKSND huyện Sóc Sơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
    • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 146; các Điều 271; 272; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
    • Điều 155; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 174; Điều 175; Điều 176 Bộ luật dân sự.
  • Căn cứ Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
  • Căn cứ Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013
  • Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử: - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim K.

Buộc bà Lê Thị L phải tháo rỡ công trình xây trên phần đất của bà K và trả lại cho bà K diện tích 0,55m² đất.

Án phí: Bà K không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm; Bà Lê Thị L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, yêu cầu của các bên đương sự; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện VKSND huyện Sóc Sơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN.

I/ Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim K yêu cầu bà Lê Thị L phải tháo dỡ tường bao trả lại diện tích đất lấn chiếm; Bị đơn bà Lê Thị L có nơi cư trú tại thôn V, xã P, H . S, thành phố Hà Nội, theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Đối với Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt nhưng đã được Tòa án thông báo và tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

II/ Về nội dung vụ án:

[1]. Nguồn gốc đất của gia đình bà Nguyễn Thị Kim K:

Nguồn gốc thửa đất bà Nguyễn Thị Kim K đang quản lý, sử dụng được nhận tặng cho từ bố mẹ bà là ông Nguyễn Duy T4 và bà Đàm Thị H, thửa đất có diện tích là 337m², đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 2008. Sau khi nhận tặng cho, bà đã chuyển nhượng một phần đất cho ông Nguyễn Đăng C với diện tích là 112m². Diện tích còn lại của thửa đất là 260m² đã được Sở Tài nguyên Môi trường thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2018, số vào sổ CS-SS 10224 đứng tên bà là Nguyễn Thị Kim K. Bà K sử dụng ổn định đến năm 2022 thì xảy ra tranh chấp.

Vị trí thửa đất tại thôn V, xã P, H.S, thành phố Hà Nội:

  • Cạnh phía Đông tiếp giáp đường ngõ.
  • Cạnh phía Tây tiếp giáp đất nhà bà T5 và ông H1.
  • Cạnh phía Nam tiếp giáp nhà bà L và nhà ông C.
  • Cạnh phía Bắc tiếp giáp đất chị V.

[2] Nguồn gốc đất của gia đình bà Lê Thị L đang sử dụng:

Nguồn gốc thửa đất của bà Lê Thị L do cụ Nguyễn Thị Đ2 (mẹ đẻ) để lại thừa kế cho bà theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 54/TTPCDS/2013 lập ngày 28/6/2023 tại Phòng C1. Thửa đất được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 25/11/1996. Ngày 18/7/2013 UBND huyện S đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00843 đứng tên bà là Lê Thị L. Ngày 25/9/2013 bà làm Hợp đồng tặng cho tại Văn phòng C2 tặng cho em gái bà là Dương Thị L1 160m², diện tích đất còn lại là 273m².

Vị trí thửa đất tại thôn V, xã P, H.S, thành phố Hà Nội:

  • Cạnh phía Đông tiếp đất chị L1.
  • Cạnh phía Tây tiếp giáp đất nhà bà T6.
  • Cạnh phía Nam tiếp giáp đường đi vào Đền G.
  • Cạnh phía Bắc tiếp giáp đất nhà bà K và một phần giáp đất ông C.

[3]. UBND xã P cung cấp thông tin liên quan đến thửa đất của hai hộ như sau:

  • Thửa đất bà Nguyễn Thị Kim K đang quản lý, sử dụng là thửa số 64ª1-1+64a2, tờ bản đồ 05 tại thôn P, xã P, S, Hà Nội có diện tích 260m² . Thửa đất này được hợp thành từ một phần thửa đất số 64a, tờ bản đồ 05 tại Giấy chứng nhận số BG 146776, số vào sổ CH 00452 do UBND huyện cấp ngày 25/10/2011 và một phần thửa đất số 64a, tờ bản đồ 05 tại Giấy chứng nhận số AÐ 239538, số vào sổ H 00587 do UBND huyện cấp ngày 01/10/2008. Nguồn gốc sử dụng là nhận tặng cho đất được công nhận quyền sử đất có thu tiền sử dụng đất 50,0m² như giao đất không thu tiền sử dụng đất 210,0m². Thửa đất đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS-SS 10224 ngày 04/12/2018 cho bà Nguyễn Thị Kim K.
  • Thửa đất bà Lê Thị L đang quản lý, sử dụng là thửa đất số 70, tờ bản đồ 05 tại thôn P, xã P, S, Hà Nội có diện tích 433m². Nguồn gốc sử dụng là nhận thừa kế từ cụ Nguyễn Thị Đ2 theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 54/TTPCDS/2013 lập ngày 28/6/2023 tại Phòng C1 thành phố Hà Nội. Thửa đất đã được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH00843 ngày 18/7/2018 đứng tên bà là Lê Thị L. Ngày 25/9/2013 bà L đã làm Hợp đồng tặng cho tại Văn phòng C2 tặng cho em gái bà là Dương Thị L1 160m², diện tích còn lại là 273m².

Sau khi hai hộ gia đình xảy ra tranh chấp, UBND xã P đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa hai gia đình nhưng không thành.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bên đương sự đều có ý kiến xác nhận sau khi gia đình nhà bà K và gia đình bà Lê Thị L được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ, giữa các bên đều không có ý kiến, kiến nghị hoặc có đơn thư, khiếu nại, khởi kiện về việc cấp GCNQSDĐ, nên GCNQSDĐ cấp cho bà K và bà L đều hợp pháp.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại diện tích 9m2 đất ; Sau khi Tòa án công khai tài liệu chứng cứ Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đồng ý với kết quả xem xét thẩm định, sơ đồ kiểm tra hiện trạng và kết quả đo đất. Tại phiên tòa Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến của Nguyên đơn đề nghị bà Lê Thị L phải trả lại cho bà K diện tích đất theo đúng kết quả kiểm tra hiện trạng và số liệu do Tòa án đã công khai tài liệu chứng cứ theo sơ đồ ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá. Xét yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 24/4/2024 và sơ đồ Trích đo hiện trạng thửa đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bản đồ địa chính năm 1993, Bản đồ VN do UBND xã P cung cấp Hội đồng xét xử nhận định:

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Bản đồ địa chính năm 1993 do UBND xã P đang lưu giữ và quản lý : Thửa số 64ª1-1+64a2 và thửa số 70, tờ bản đồ 05 tại thôn V, xã P, huyện S, TP . Hà Nội, vị trí (ranh giới) đất tiếp giáp giữa hai thửa đất là 01 đường thẳng; Theo sơ đồ trích đo hiện trạng 02 thửa đất do các bên đương sự chỉ dẫn xác định mốc giới đối với 02 thửa đất thì hiện trạng xây dựng và sử dụng đất của hai hộ được thể hiện:

  • Diện tích thực đo của thửa 64ª1-1+64a2 là 261,5m²
  • Diện tích thực đo của thửa 70 là 433m².

Vị trí tranh chấp giữa hai thửa đất được xác định từ các điểm a,9.b.c.a: Phần diện tích tranh chấp thửa 70 lấn sang thửa thửa 64ª1-1+64a2 có diện tích 0,55m2. Trong đó: a-9: 4,32m; 9-b: 0,1m; b-c: 4,3m; c-a:0,18m.

Đối với phần đất và tường do gia đình bà L xây đang chồng lấn sang diện tích 0,55m2 được giới hạn bởi các điểm a,9.b.c.a thuộc phần đất của bà K.

  • Tại Biên bản làm việc của Tòa án với các hộ liền kề đất gia đình bà K, bà L xác định, giữa các hộ và gia đình bà K, bà L không có tranh chấp, đã có mốc giới ổn định.
  • Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét nhận thấy: Bà Nguyễn Thị Kim K yêu cầu bà Lê Thị L phải tháo dỡ công trình là đoạn tường bao xây trên phần đất của gia đình bà và phải trả lại diện tích 0.55m2; Bà Lê Thị L không đồng ý với yêu cầu đòi lại đất của bà K nhưng bà không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh cho quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đối với phần diện tích đất bà đã xây tường bao hiện bà K đang có tranh chấp. Theo kết quả xem xét thẩm định và đo đạc đối với 02 thửa đất (Sau khi công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải, và tại phiên tòa cả hai bên đều xác nhận kết

quả đo đạc của Hội đồng định giá tài sản ngày 24/4/2024) do đó đủ cơ sở xác định diện tích đất gia đình bà Lê Thị L đang xây lấn sang đất ở của bà Nguyễn Thị Kim K là 0,55 m2.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim K; Buộc bà Lê Thị L trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim K diện tích 0,55 m2 đất và phải tháo rỡ phần công trình xây trên đất của bà K.

[4] Về giá trị tài sản: Theo Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá ngày 24/4/2024 thì các đương sự xác nhận, đồng ý tài sản và giá trị tài sản tranh chấp gồm có Quyền sử dụng đất tranh chấp trị giá 25.000.000đ/m2: 0,55m² x 25.000.000đ = 13.750.000đ; công trình xây dựng (gồm tường bao) đã hết giá trị.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn bà K được chấp nhận nên bà không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 146; các Điều 271; 272; 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Điều 155; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 174; Điều 175; Điều 176; Điều 579 Bộ luật dân sự;
  • Điều 50 Luật đất đai năm 2003.
  • Điều 202; khoản 1 Điều 203; Điều 170 Luật đất đai năm 2013.
  • Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Đòi tài sản là quyền sử dụng đất” của bà Nguyễn Thị Kim K đối với bà Lê Thị L.
  2. Buộc bà Lê Thị L phải tháo rỡ đoạn tường bao, trả lại bà Nguyễn Thị Kim K diện tích 0,55m2 đất tại địa chỉ thôn V, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Được giới hạn bởi các điểm a a,9.b.c.a: có diện tích 0,55m2. Trong đó: a-9: 4,32m; 9-b: 0,1m; b-c: 4,3m; c-a:0,18m.
    • Kèm theo sơ đồ kỹ thuật thửa đất.
  3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 8,45m2 do Nguyên đơn rút yêu cầu.
  4. Về án phí: Bà Lê Thị L phải nộp 687.500đ án phí Dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Thị Kim K được trả lại số tiền 3.375.000đ tạm ứng án phí bà đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn Biên lai thu số 0022051 ngày 10/11/2023.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành

án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về phần có liên quan.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội
  • - VKS TP . Hà Nội
  • - VKSNDH Sóc Sơn.
  • - Chi cục THADS H.Sóc Sơn.
  • - UBND xã Phù Linh
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DSST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 47/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger