|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 47/2024/DS-ST Ngày 30/8/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa
2. Bà Vũ Thị Phương Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2024/TLST-DSST ngày 24 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (gọi tắt Công ty T).
Trụ sở: I P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H1 - Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty L1; trụ sở: 23 L, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H2 - Giám đốc, theo Hợp đồng ủy quyền số 09/2024/QUQ-MAFC ngày 02/5/2024.
Ông H2 ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Võ Bá L, sinh năm: 2002; chức vụ: Nhân viên, theo giấy ủy quyền số 115/GUQ-2024, ngày 05/7/2024 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ G, khu phố E, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2024 và trong quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/4/2022, Công ty T có ký Hợp đồng tín dụng số 3039053 về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn M với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, trong đó bao gồm 30.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 45%/năm. Sau khi ký kết hợp đồng ngày 10/5/2022, Công ty T đã giải ngân số tiền vay trên cho ông M. Theo hợp đồng tín dụng đã ký, ông P có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.634.536 đồng trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 10/5/2022 đến ngày 10/4/2025. Tính đến ngày 22/8/2024, ông Nguyễn Văn M đã thanh toán được 19 kỳ với tổng số tiền 31.314.974 đồng. Từ ngày 14/12/2023, ông M không thanh toán cho Công ty T. Công ty T đã nhiều lần yêu cầu ông M hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nhưng ông M không thanh toán đúng hạn theo quy định của Hợp đồng tín dụng đã ký kết đồng thời vi phạm nghĩa vụ với Công ty T.
Tính đến ngày 30/4/2024, ông M còn nợ Công ty T các khoản tiền như sau:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 20.408.339 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 5.613.765 đồng.
- Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 2.257.282 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả) là 236.709 đồng.
Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn M phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 30/8/2024, tổng cộng là: 28.516.095 đồng và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết nợ.
- Về ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn M: Trong quá trình tố tụng ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.
Theo kết quả xác minh, ông M có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện có cư trú tại ấp N, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn M có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T số tiền 28.516.095 đồng và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết nợ.
Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty T khởi kiện ông Nguyễn Văn M về tranh chấp hợp đồng tín dụng không có mục đích lợi nhuận nên xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật dân sự.
Bị đơn cư trú tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Theo các chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện: Ngày Ngày 07/4/2022, ông Nguyễn Văn M có ký với Công ty T hợp đồng sử dụng theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3039053, số tiền vay là 31.980.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 45%/năm. Tính đến ngày 22/8/2024, ông Nguyễn Văn M đã thanh toán được 19 kỳ với tổng số tiền 31.314.974 đồng. Từ ngày 14/12/2023, ông M không thanh toán cho Công ty T. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn M phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 30/8/2024, tổng cộng là: 28.516.095 đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 20.408.339 đồng; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 5.613.765 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 2.257.282 đồng; Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả) là 236.709 đồng và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết nợ.
[3] Xét thấy, ông Nguyễn Văn M đã vi phạm kỳ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ cho Công ty T tính đến ngày 30/8/2024, tổng cộng là: 28.516.095 đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 20.408.339 đồng; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 5.613.765 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 2.257.282 đồng; Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả) là 236.709 đồng và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết nợ.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn M phải chịu số tiền 1.425.804 đồng. H3 lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277, 463; 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với ông Nguyễn Văn M.
- Buộc ông Nguyễn Văn M có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T số tiền 28.516.095₫ (hai mươi tám triệu, năm trăm mười sáu ngàn, không trăm chín mươi lăm đồng), trong đó: nợ gốc: 20.408.339 đồng; tiền lãi quá hạn: 5.613.765 đồng; tiền lãi quá hạn: 2.257.282 đồng; tiền lãi chậm trả: 236.709 đồng và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết nợ.
- Án phí: ông Nguyễn Văn M phải nộp 1.425.804 đồng (một triệu, bốn trăm hai mươi lăm nghìn, tám trăm lẻ bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. H3 lại cho Công ty T số tiền tạm ứng án phí 617.069 (sáu trăm mười bảy nghìn, không trăm sáu mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001309 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.
- Quyền kháng cáo: Trong hạn mười lăm ngày từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Văn Đê Nguyễn Thị Tuyết Hồng |
Nguyễn Thị Mai |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |
Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 47/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 07/4/2022, Công ty T có ký Hợp đồng tín dụng số 3039053 về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn M với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, trong đó bao gồm 30.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 45%/năm. Sau khi ký kết hợp đồng ngày 10/5/2022, Công ty T đã giải ngân số tiền vay trên cho ông M. Theo hợp đồng tín dụng đã ký, ông P có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.634.536 đồng trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 10/5/2022 đến ngày 10/4/2025. Tính đến ngày 22/8/2024, ông Nguyễn Văn M đã thanh toán được 19 kỳ với tổng số tiền 31.314.974 đồng. Từ ngày 14/12/2023, ông M không thanh toán cho Công ty T. Công ty T đã nhiều lần yêu cầu ông M hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nhưng ông M không thanh toán đúng hạn theo quy định của Hợp đồng tín dụng đã ký kết đồng thời vi phạm nghĩa vụ với Công ty T. Tính đến ngày 30/4/2024, ông M còn nợ Công ty T các khoản tiền như sau: - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 20.408.339 đồng. đồng. - Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 5.613.765 Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 2.257.282 đồng. - Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả) là 236.709 đồng. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn M phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 30/8/2024, tổng cộng là: 28.516.095 đồng và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết nợ.
