Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/DS -ST

Ngày 26/9/2024.

V/v: “Tranh chấp QSD đất ruộng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Chuyết.
  2. Bà Đoàn Thị Dịu.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị D - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2023/TLST-DS ngày 13/10/2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất ruộng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971; Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
  2. Bị đơn: Ông Phan Văn P, sinh năm 1950; Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Dương Thị A, sinh năm 1973; Trú tại: Tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
    • 3.2. Ông Nguyễn Mậu N, sinh năm 1952; Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Có mặt ông C, bà A, ông P. Vắng mặt ông N (có đơn xin xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên ông Nguyễn Văn C trình bày:

Năm 2004 Đội sản xuất số C thị trấn C, huyện T lấy 0,77 sào đất ruộng của gia đình ông để đào mương thoát nước và đổi cho gia đình ông 0,77 sào đất ruộng tương đương với 277m² đất thuộc xứ đồng Thần Từ tại thửa số 8, tờ bản đồ số 12, tại thị trấn C, huyện T. Phần đất ruộng này trước đây của gia đình ông Phan Văn D1 do gia đình ông D1 không có nhu cầu sử dụng nên đã trả lại cho Đội sản xuất số 3 để giao cho các gia đình khác sử dụng. Đến ngày 07/7/2006 Đội trưởng Đội sản xuất số 3 là ông Dương Hữu Á (hiện nay đã chết) đã giao cho gia đình ông được sử dụng 0,77 sào đất hai lúa nêu trên. Sau khi nhận đất ruộng, gia đình ông đã sử dụng ổn định, vượt lập một phần để trồng cây hoa màu và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế trong các năm 2006, 2007. Đến năm 2008, do xảy ra tranh chấp về diện tích đất ruộng nêu trên với ông Phan Văn P nên UBND thị trấn C không cho gia đình ông nộp thuế đối với phần đất ruộng này. Năm 2009 UBND thị trấn Cổ Lễ giải quyết tranh chấp về đất ruộng nêu trên giữa gia đình ông với gia đình ông P nhưng gia đình ông không được mời tham gia hòa giải, không được nhận văn bản liên quan đến việc giải quyết tranh chấp nêu trên. Năm 2022 gia đình ông mới nhận được Thông báo số 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 của UBND thị trấn C. Gia đình ông đã có đơn yêu cầu UBND thị trấn C giải quyết nhưng không thành. Vì vậy ông có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Trực Ninh giải quyết, giao cho gia đình ông được quyền sử dụng 277m² đất ruộng tại thửa số 8, tờ bản đồ số 12, tổ dân phố Đ (đội 3 cũ), thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại biên bản hòa giải, bị đơn là ông Phan Văn P1 ý kiến như sau:

Diện tích 277m² đất ruộng thuộc Xứ Đ Từ tại thửa số 8, tờ bản đồ số 12, đội 3, thị trấn C, huyện T đang tranh chấp trước đây là của gia đình ông Phan Văn D1. Do gia đình ông D1 không sử dụng nữa nên trả lại cho Đội sản xuất số 3 quản lý. Năm 2004 khi dồn điền đổi thửa, Đội sản xuất số 3 lấy 01 sào ruộng của gia đình ông và đổi cho gia đình ông phần đất ruộng này. Sau đó ông Dương Hữu Á là đội trưởng đội sản xuất số 3 và Ban dồn điền đổi thửa đã giao diện tích đất ruộng này cho ông sử dụng. Sau đó UBND thị trấn C đã ra Thông báo số 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 giao cho ông được sử dụng phần đất ruộng đang có tranh chấp. Tuy nhiên, ông không sử dụng phần đất ruộng này mà đổi phần đất ruộng này để lấy 01 chiếc xe máy của ông Nguyễn Mậu N, hai bên viết tay giấy chuyển nhượng với nhau, thời gian chuyển nhượng đất ruộng cho ông N thì ông không nhớ, các giấy tờ liên quan đến phần đất ruộng trên thì ông đã giao hết cho ông N. Ông không có tài liệu, chứng cứ về việc đổi phần đất ruộng của gia đình ông để lấy phần đất ruộng đang có tranh chấp.

Quan điểm của ông về việc giải quyết vụ án như sau: Nếu ông C muốn nhận lại 277m² đất ruộng nêu trên thì ông C phải trả cho ông N chiếc xe máy mà ông đã nhận của ông N khi đổi lấy đất ruộng đang có tranh chấp.

Tại biên bản hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Mậu N có ý kiến như sau:

Khoảng năm 2009, giữa ông và ông Phan Văn P có viết giấy tay thoả thuận ông nhận sử dụng 0,77 sào đất hai lúa thuộc xứ đồng Thần Từ tại tờ 12 thửa 8 đội 3 tại thị trấn C, huyện T từ ông P và ông phải trả cho ông P 01 chiếc xe máy có giá trị là 37 triệu đồng. Từ khi đổi đất với ông P thì ông không sử dụng diện tích đất ruộng này. Quan điểm của ông N như sau: Nếu các bên không hoà giải được với nhau, ông đề nghị ông P phải trả cho ông giá trị chiếc xe máy mà ông P đã nhận của ông vào năm 2009 với số tiền theo giá trị hiện nay.

Tại biên bản hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Dương Thị A có ý kiến như sau: Bà đồng ý với ý kiến của ông C và không có ý kiến gì khác.

UBND thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định cung cấp như sau:

  • Tại phiếu thửa năm 1994, hộ ông Phan Văn D1 có 357m² đất lúa tại thửa số 8, tờ bản đồ số 12, tại tổ dân phố Đ (đội 3 cũ), thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Tại phiếu thửa năm 2012, hộ ông Phan Văn D1 không còn diện tích đất lúa nêu trên.
  • UBND thị trấn C không còn lưu giữ phiếu thửa liên quan đến thửa đất số 8 từ năm 1995 đến năm 2011.
  • Năm 2006 và năm 2008 ông Phan Văn P có Đơn đề nghị UBND thị trấn C giải quyết việc tranh chấp đất ruộng với ông Nguyễn Văn C có liên quan đến diện tích đất ruộng của hộ ông Phan Văn D1. Đồng thời năm 2008 ông C cũng có đơn đề nghị giải quyết việc tranh chấp nêu trên.
  • Ngày 09/8/2008 UBND thị trấn C có Báo cáo về việc tranh chấp nêu trên. Ngày 09/01/2009 UBND thị trấn C có Biên bản làm việc giải quyết việc tranh chấp nêu trên.
  • UBND thị trấn C không lưu giữ biên bản giao nhận Thông báo số 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 cho ông C, ông P, Đội sản xuất số 3 và không biết lý do vì sao Đội sản xuất số 3 không thực hiện theo Thông báo số 11.

Ông Dương Văn T - Nguyên là Chi uỷ viên Đội sản xuất số 3 từ năm 2002 cung cấp như sau:

Trước khi UBND thị trấn C có Thông báo số 11/TT-UBND ngày 11/02/2009, ông Dương Hữu Á khi đó là Đội trưởng đội sản xuất số 3 đã giao diện tích đất ruộng của gia đình ông D1 tại thửa số 8, tờ bản đồ số 12 (do gia đình ông D1 trả lại cho Đội sản xuất số 3) cho gia đình ông Nguyễn Văn C sử dụng do gia đình ông C được đổi vị trí canh tác.

Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã Quyết định thành lập Hội đồng định giá, tiến hành xem xét thẩm định, định giá tài sản đối với phần đất ruộng đang có tranh chấp tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số 12, tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

1. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất số 8 như sau:

  • Tại vị trí đất ruộng đang có tranh chấp: Phía Bắc giáp nhà ông N1, đã xây tường bao tách ngăn cách giữa hai thửa đất; Phía Nam: Giáp đường xóm; Phía Đông và phía Tây: Giáp thửa đất trống. Hiện nay diện tích đất ruộng này đã san lấp, không trồng cấy.
  • Tại thửa đất số 8: Giữa các thửa đất ruộng chưa có tường rào, cọc mốc phân chia ranh giới giữa các bên.

2. Kết quả định giá của Hội đồng định giá như sau:

  • Giá đất chuyển nhượng thực tế theo giá thị trường tại thời điểm hiện nay tại vị trí đất ruộng có tranh chấp là 700.000 đồng/1m².

Tại phiên tòa:

- Ông Nguyễn Văn C vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giao cho gia đình bà được sử dụng diện tích đất ruộng nêu trên. Vì năm 2004 Đội sản xuất số 3 có lấy 0,77 sào đất ruộng của gia đình ông để đào mương nên đã trả cho ông 0,77 sao đất ruộng do nhà ông D1 trả ra. Gia đình ông đã quản lý diện tích đất ruộng này cho đến nay. Ông không biết và cũng không được nhận Thông báo số 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 của UBND thị trấn C.

- Ông Phạm Văn P2 vẫn giữ nguyên quan điểm và lời khai của mình như đã trình bầy trong biên bản lời khai và hòa giải tại tòa án. Các tài liệu liên quan đến việc Đội sản xuất số 3, cũng như ban dồn diềnđổi thửa đá giao cho ông diện tích đất nêu trên hiện nay không còn.

- Bà Dương Thị A đồng ý với quan điểm của ông Nguyễn Văn C và không có ý kiến gì khác.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Thư ký và HĐXX đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70; 71; 72; 73 BLTTDS.

Ông Nguyễn Mậu N có đơn xin vắng mặt tại phiên toà, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt ông N là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Chấp nhận đơn khởi kiện của Ông Nguyễn Văn C, xác định thửa đất ruộng có diện tích 277 m² đất ruộng tại thửa số 8 tờ bản đồ số 12 thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

Việc chuyển nhượng đất giữa ông N và ông P2 khi đất đang có tranh chấp là không hợp pháp. Ông P2 và ông N tự thỏa thuận, thống nhất để giải quyết số tiền đã nhận chuyển nhượng hoặc khởi kiện giải quyết ở vụ án khác.

Việc ông P2 cho rằng đội sản xuất số 3 lấy 1 sào ruộng của hộ ông nên sau đó ông Dương Hữu Á và ban dồn điền đổi thửa UBND thị trấn Cổ Lễ đã lấy 01 phần diện tích đất ruộng của ông D1 = 277 m² giao cho ông P2 sử dụng. Nay xác định diện tích đất 277m² của hộ ông C. Ông P2 có thể đề nghị giải quyết ở vụ án khác.

Áp dụng Điều 47 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH để tuyên án phí dân sự sơ thẩm đối với đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Nguyễn Mậu N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt ông N là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung

2.1. Năm 2005 Đội sản xuất số C thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định lấy 0,77 sào đất ruộng của gia đình ông Nguyễn Văn C để đào mương thoát nước, sau đó đã đổi cho gia đình ông C 0,77 sào đất ruộng tương đương với 277m² đất thuộc Xứ Đ Từ, thửa số 8, tờ bản đồ số 12, tổ dân phố Đ (đội 3 cũ), thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Diện tích đất ruộng này do nhà ông Phạm Văn D2 không sử dụng đã trả cho Đội sản xuất số 3. Ngày 05/7/2006, ông Dương Hữu Á (hiện nay đã chết) là đội trưởng đội sản xuất số 3 đã giao cho gia đình ông C được sử dụng 277m² đất ruộng này. Sau khi nhận đất ruộng, gia đình ông C đã vượt lập một phần để trồng cấy cây hoa màu và đã nộp thuế cho Đội sản xuất số 3, vào năm 2006, 2007. Năm 2008 giữa gia đình ông C và gia đình ông P2 xảy ra tranh chấp diện tích đất ruộng 0,77 sào mà đội sản xuất số 3 đã giao cho gia đình ông C sử dụng. Năm 2009 UBND thị trấn Cổ Lễ giải quyết tranh chấp đối với diện tích đất ruộng nêu trên giữa gia đình ông C với gia đình ông P2, nhưng quá trình giải quyết UBND thị trấn đã không mời ông C và ông P2 lên làm việc theo đúng quy định của pháp luật. UBND thị trấn C đã căn cứ vào báo cáo kết quả xác minh và đã ban hành Thông báo số 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 với nội dung: Diện tích 0,77 sào đất hai lúa đang có tranh chấp thuộc về hộ ông P2; Đội sản xuất số 3 lấy ruộng được giao ổn định của gia đình ông C để đào mương phục vụ sản xuất thì phải trả ruộng cho hộ ông C tại vị trí khác; Thời gian thực hiện phải xong trước tháng 02/2009... Tuy nhiên, Đội sản xuất số 3 không thực hiện theo nội dung thông báo số 11. Sau khi nhận được thông báo số 11, ông P2 đã thỏa thuận đổi cho ông Nguyễn Mậu N diện tích đất ruộng trên lấy một chiếc xe máy. Từ năm 2008 cho đến nay ông C vẫn quản lý, sử dụng diện tích đất này, ông N và ông P2 không có ý kiến gì.

2.2. Căn cứ vào nội dung nêu trên, HĐXX xét thấy:

- Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyên Văn C1: Năm 2004 Đội sản xuất số 3 đã lấy 0,77 sào đất ruộng của gia đình ông C1 để đào mương, vì vậy đội sản xuất số 3 có trả cho ông C1 0,77 sào đất ruộng tại Xứ Đ Từ, thuộc thửa số 8, tờ bản đồ số 12, tổ dân phố Đ (đội 3 cũ), thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Nguồn gốc diện tích đất ruộng này là của gia đình ông Phạm Văn D2 không sử dụng đã trả cho đội sản xuất. Trực tiếp ông Dương Hữu Á là đội trưởng đội sản xuất số 3 đã giao cho gia đình ông C1 diện tích đất này. Sau khi nhận diện tích đất ruộng trên gia đình ông C1 đã quản lý sử dụng cho đến nay. Năm 2008 khi xảy ra tranh chấp vơi ông P2 UBND thị T đã tiến hành giải quyết tranh chấp nhưng trong quá trình giải quyết UBND thị trấn C đã không tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Gia đình ông C1 không được tham gia, không được nhận quyết định giải quyết tranh chấp. Sau khi UBND thị trấn C có thông báo số 11 về kết luận giải quyết tranh chấp nhưng Đội sản xuất số 3 cũng không triển khai thực hiện theo nội dung thông báo này. Vì vậy, diện tích đất ruộng đội sản xuất số 3 đã giao cho ông C1 vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông C1. Do đó yêu cầu khởi kiện của ông C1 là có căn cứ được HĐXX chấp nhận.

- Đối với quan điểm ý kiến của ông P2 cho rằng diện tích đất ruộng này là Ban dồn điền đổi thửa đã giao cho ông sự dụng và theo nội dung Thông báo số: 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 của UBND thị trấn C thì ông đã được giao sử dụng 0,77 sào đất ruộng đang có tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án ông P2 không có tài liệu chứng cứ để chứng minh ông đã được Ban dồn điền đổi thửa giao cho ông sử dụng diện tích đất ruộng này. Về Thông báo số: 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 của UBND thị trấn C, xét thấy đây chỉ là kết luận về việc giải quyết tranh chấp giữa ông P2 với ông C1 không phải là quyết định giao đất. Mặt khác sau khi có thông báo về việc giải quyết tranh chấp của UBND thị trấn C cũng không triển khai thựa hiện theo nội dung thông báo. Vì vậy, diện tích đất này không thuộc quyền sử dụng của ông P2. Vì vậy quan điểm của ông P2 không có căn cứ không được chấp nhận.

Từ những căn cứ nêu trên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông C1, HĐXX xét thấy cần tiếp tục giao cho gia đình ông C1 được sử dụng phần đất ruộng đã được Đội trưởng đội sản xuất số C thị trấn C, huyện T giao cho gia đình ông vào ngày 05/7/2006. Theo kết quả đo đạc thực tế, hiện nay phần đất ruộng đang có tranh chấp có diện tích là 270m².

2.3. Đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất ruộng giữa ông P2 với ông Nguyễn Mậu N: Hội đồng xét xử, xét thấy giao dịch chuyển quyền sử dụng đất giữa ông P2 với ông N là vô hiệu. Vì ông P2 chưa có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất này. Ông P2 chỉ căn vào Thông báo số: 11/TT-UBND ngày 11/02/2009 của UBND thị trấn C để chuyển nhượng đất cho ông N. Hai bên cũng chỉ thỏa thuận viết giấy cho nhau không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận chuyển nhượng đất ông N cũng không sử dụng diện tích đất này. Đến nay quan điểm của ông N yêu cầu ông P2 phải có trách nhiệm trả lại cho ông số tiền nhận chuyển diện tích đất ruộng tương đương với giá trị chiếc xe máy, ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án sẽ tách việc giải quyết tranh chấp giữa ông N và ông P2 ra thành vụ án khác khi có đơn yêu cầu.

[3] Về án phí:

3.1. Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C được chấp nhận nên ông C không phải nộp án phí. Trả lại cho ông C số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

3.2. Ông Phan Văn P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn C tự nguyện nộp toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 235, 236 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất ruộng” giữa ông Nguyễn Văn C với ông Phan Văn P.
  2. Giao cho ông Nguyễn Văn C và bà Dương Thị A được quyền sử dụng 270 m² đất ruộng tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số 12, tổ dân phố Đ, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

    Diện tích đất ruộng giao cho ông C, bà A có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp nhà ông N1, dài 8,9 mét; Phía Nam: Giáp đường xóm, dài 10 mét; Phía Đông: Giáp đất ruộng, dài 29,5 mét; phía Tây: Giáp đất ruộng, dài 27,9 mét (có sơ đồ kèm theo).

  3. Ông Nguyễn Văn C và bà Dương Thị A có quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đối với diện đất ruộng được công nhận quyền sử dụng theo quyết định của Bản án tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật đất đai.
  4. Án phí:
    • 4.1. Trả lại cho ông Nguyễn Văn C 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0002371 ngày 13/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
    • 4.2. Ông Phan Văn P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của BLTTDS.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND TT. Cổ Lễ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất ruộng

  • Số bản án: 47/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất ruộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất ruộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger