Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 47/2024/DS-PT

Ngày 10-7-2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Viết Anh, ông Phạm Văn Toàn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 32/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 337/2024/QĐPT-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - sinh năm 1979

Địa chỉ: Khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

(Có mặt)

Bị đơn: Anh Thiều Mạnh C - sinh năm 1978

Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo ủy quyền của anh C: Chị Thiều Thị Hồng N - sinh năm 2001, địa chỉ: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

(Có mặt)

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Ngọc H - sinh năm 1967
  2. Địa chỉ: Khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ

    (Có mặt)

  3. Chị Nguyễn Thị M - sinh năm 1980
  4. Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

    (Vắng mặt)

  5. UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  6. Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn Đ, chức vụ: Chủ tịch UBND xã Tu Vũ

    Địa chỉ: Khu I, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

    (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

Ông Thiều Văn T1 - sinh năm 1948, chị Trần Thị T2 - sinh năm 1952

Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà T2: Anh Thiều Mạnh C - sinh năm 1978, địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Có mặt)

Những người kháng cáo:

  1. Anh Thiều Mạnh C - Là bị đơn
  2. Chị Nguyễn Thị M - Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  3. Ông Thiều Văn T1 và chị Trần Thị T2 - Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, chị Trần Thị T là nguyên đơn trình bày:

Ông Thiều Văn T1 và bà Trần Thị T2 có thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 diện tích 2707,0m² tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, ngày 23/7/2010 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC764551 cho ông T1 bà T2. Năm 2014 ông T1 bà T2 chuyển nhượng cho chị thửa 54 tờ bản đồ số 9 diện tích 2707,0m². Ngày 03/02/2015 chị được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 217523. Tiếp giáp với thửa đất của chị là thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 của vợ chồng anh C chị M. Cuối năm 2021 chị phát hiện vợ chồng anh C chị M đã xây nhà, làm chuồng chăn nuôi và trồng cây trên phần đất của chị nên chị đã gặp vợ chồng anh C chị M để trao đổi, để tránh phải tháo dỡ ngôi nhà thì hai bên thỏa thuận là chị chuyển nhượng cho vợ chồng anh C chị M diện tích đất đã xây nhà với giá 100.000.000 đồng, có một cạnh tiếp giáp với đường đi tính từ thửa đất của anh C chị M sang thửa đất của chị dài 2,35m. Ngày 22/01/2022 hai bên viết giấy với nội dung chị chuyển nhượng 169,0m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 cho anh C chị M nên hiện nay diện tích đất của chị còn 2538,0m². Vị trí diện tích đất chuyển nhượng cho anh C chị M là tiếp giáp với thửa đất số 16 của anh C chị M. Khi chuyển nhượng đất cho anh C chị M thì hai bên có lập biên bản thỏa thuận mua bán đất và tài sản trên đất, có bà Trần Thị T2 là mẹ đẻ của anh C làm chứng và bà T2 đã ký vào biên bản, mặc dù chuyển nhượng đất cho vợ chồng anh C chị M nhưng bà T2 trả tiền cho chị thay cho vợ chồng anh C chị M. Ngày 21/4/2022 chị phát hiện vợ chồng anh C chị M đã múc đất, xây tường rào trên thửa đất số 54 của chị, chị đã yêu cầu vợ chồng anh C chị M dừng đào đất và xây tường rào nhưng vợ chồng anh C chị M không nghe và cho rằng phần diện tích đất xây tường rào là của vợ chồng anh C chị M, do hai bên không giải quyết được nên chị đã đề nghị UBND xã giải quyết nhưng vẫn không giải quyết được, sau khi hòa giải tại UND xã thì vợ chồng anh C chị M vẫn tiếp tục xây bức tường làm hàng rào. Chị xác định ngoài diện tích đất chuyển nhượng cho anh C chị M thì vợ chồng anh C chị M còn sử dụng 374,4m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 của chị, trên diện tích đất 374,4m² có chuồng chăn nuôi, trồng cây và xây tường làm hàng rào. Nay chị khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh C chị M trả lại chị 374,4m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất để chị sử dụng mặt bằng, gồm chuồng chăn nuôi lợp ngói F, bức tường xây bằng gạch và cây trồng trên đất. Đối với phần diện tích đất 43,7m² bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất chuyển nhượng cho vợ chồng anh C chị M thì chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với số tiền chi phí tố tụng mà chị đã nộp tạm ứng, chị xin chịu toàn bộ nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là anh Thiều Mạnh C và người đại diện theo ủy quyền của anh C là chị Thiều Thị Hồng N trình bày:

Anh C chị M là vợ chồng. Năm 2000 vợ chồng anh C chị M không sống chung cùng với bố mẹ đẻ anh C mà làm nhà và ra ở riêng trên mảnh đất đồi rừng tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T của bố mẹ đẻ của anh C là ông Thiều Văn T1 bà Trần Thị T2 đã cho anh C và em trai của anh C là anh Thiều Mạnh Q mỗi người 1/2 diện tích đất. Khi bố mẹ đẻ của anh C cho thì chưa xác định được diện tích đất cụ thể của từng người là bao nhiêu m² vì lúc đó cỏ mọc um tùm, anh C chưa có điều kiện thuê đo diện tích đất bằng máy và đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ xác định mốc giới giữa hai thửa đất là cây bạch đàn và cây xoan trồng xen kẽ lẫn nhau. Đến năm 2010, ông T1 bà T2 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh C và anh Q. Do anh Q đi làm xa nhà nên phần đất cho anh Q thì ông T1 bà T2 đã đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T1 bà T2, còn phần đất của anh C thì mang tên vợ chồng anh C chị M. Khi vợ chồng anh C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh C không biết diện tích đất là bao nhiêu m² vì anh không biết viết chữ và không đọc được chữ. Năm 2013 vợ chồng anh C chị M xây nhà trên thửa đất số 55 tờ bản đồ số 9, khi xây nhà thì anh C xác định mốc giới thửa đất là căn cứ vào các cây trồng trên đất mà gia đình anh C đã thống nhất, phần đất giáp ranh giữa hai thửa đất thì vợ chồng anh C chị M đổ một ít bê tông làm mốc giới, đến năm 2021 thì anh C chị M xây tường gạch bên trên phần bê tông để làm tường rào. Năm 2013 vợ chồng anh C chị M đổ bê tông để làm ranh giới giữa hai thửa đất và năm 2022 xây tường gạch bên trên phần bê tông để làm tường rào thì anh C chị M không mời các chủ sử dụng đất liền kề đến xác định mốc giới, cũng không mời các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đến xác định lại mốc giới. Đến khi xẩy ra tranh chấp quyền sử dụng đất với chị T thì anh mới biết ngày 23/7/2010 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC764551 cho ông T1 bà T2 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC764550 cho anh C chị M. Thửa đất của ông T1 bà T2 là thửa số 54 tờ bản đồ số 9 có diện tích 2707,0m², thửa đất của anh C chị M là thửa số 55 tờ bản đồ số 9 có diện tích là 2756,0m². Năm 2014 ông T1 bà T2 chuyển nhượng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 cho chị T, ngày 03/02/2015 UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 217523 cho chị thanh. Mặc dù vợ chồng anh C chị M sinh sống và làm nông nghiệp tại địa phương từ trước đến nay nhưng năm 2014 không biết ông T1 bà T2 chuyển nhượng đất cho chị T như thế nào. Năm 2022 anh C chị M chuyển nhượng cho vợ chồng anh L chị N1 1117,7m² đất nên diện tích đất còn lại 1638,3m² đất. Sau khi chuyển nhượng đất cho anh L chị N1, ngày 12/4/2022 vợ chồng anh C chị M được UBND huyện T cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC924781, thửa đất số 55 tờ bản đồ số 9 đổi thành thửa số 16 tờ bản đồ số 26.

Cuối năm 2021 chị T và vợ chồng anh C chị M xẩy ra tranh chấp diện tích đất giữa thửa số 54 tờ bản đồ số 9 của chị T và thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 của vợ chồng anh C chị M. Do phần diện tích đất tranh chấp có một phần ngôi nhà của anh C xây trên đất, bà T2 là mẹ đẻ của anh C muốn hài hòa giữa chị T và anh C và không muốn bị tháo dỡ một phần ngôi nhà, khi đó cũng nhiều người đến ép buộc và đe dọa anh C nên anh C đã nhận chuyển nhượng của chị T 169,0m² đất của thửa đất số 54 với giá 100.000.000 đồng. Nay chị T cho rằng ngoài diện tích đất 169,0m² đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh C chị M thì vợ chồng anh C chị M còn đang sử dụng 374,4m² đất của thửa đất số 54 nên khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh C chị M trả lại chị T 374,4m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu A, xã T, huyện T thì anh C chị M không nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị M trình bày: Vợ chồng chị có thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiếp giáp với thửa đất của vợ chồng chị là thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 của chị Trần Thị T. Chị T cho rằng vợ chồng chị đang lấn 374,4m² đất của thửa đất số 54 nên khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị trả lại chị T 374,4m² đất thì vợ chồng chị không nhất trí, vì phần tiếp giáp giữa hai thửa đất thì vợ chồng chị đã đổ bê tông làm mốc giới sau đó xây tường gạch bên trên để làm hàng rào.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H trình bày: Anh và chị T là vợ chồng. Năm 2014 vợ chồng anh nhận chuyển nhượng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu A, xã T, huyện T của ông T1 bà T2. Năm 2015 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chỉ ghi tên chị T. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên chị T thì anh không có ý kiến gì. Tiếp giáp với thửa đất của anh chị là thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 của vợ chồng anh C chị M. Do vợ chồng anh C chị M đã lấn 374,4m² đất của thửa đất số 54 nên chị T khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh C chị M trả lại chị T 374,4m² đất của thửa đất số 54 thì anh nhất trí. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên tên chị T thì một mình chị T giải quyết trong vụ án này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Thiều Văn T1, bà Trần Thị T2 và người đại diện theo uỷ quyền của ông T1 bà T2 là anh Thiều Mạnh C trình bày:

Vợ chồng ông T1 bà T2 có thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 diện tích 2707,0m² tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, ngày 23/07/2010 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC764551 cho ông T1 bà T2. Khoảng tháng 11 năm 2014, vợ chồng ông T1 bà T2 chuyển nhượng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 9 cho chị Trần Thị T. Chị T đã trả tiền cho ông T1 bà T2 nên ông T1 bà Tính giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T để chị T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 03/02/2015 chị T được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 217523. Hiện nay chị T đã trả đủ tiền giá trị thửa đất cho ông T1 bà T2. Anh C và chị T là hai người có thửa đất liền kề với nhau, nay xẩy ra tranh chấp đất giữa anh C và chị T thì ông T1 bà T2 mới biết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T để trống nhiều nội dung, hợp đồng không số, không ghi giá trị đất chuyển nhượng, không thỏa thuận về người thực hiện nghĩa vụ tài chính khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ký xác nhận từng trang của hợp đồng, một số giấy tờ trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T thì phần chữ ký và chữ viết họ tên không phải là của ông T1 bà T2. Việc chị T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào thì ông T1 bà T2 không biết. Ông T1 bà T2 cũng không ra UBND xã để làm thủ tục chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ký các giấy tờ. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T là không đúng quy định của pháp luật, ông T1 bà T2 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T là vô hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị T, Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã T do ông Bùi Văn Đ là Chủ tịch UBD xã T trình bày:

Qua kiểm tra sổ sách của UBND xã Y cũ, nay là UBND xã T thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thiều Văn T1, bà Trần Thị T2 và chị Trần Thị Thanh h UBND xã T không lưu giữ. Theo hồ sơ Tòa án thu thập được, thời điểm UBND xã chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T là do ông Đinh Thanh H1 nguyên Chủ tịch UBND xã Y thực hiện chứng thực. Thời điểm chứng thực hợp đồng không biết ai là cán bộ của UBND xã đã làm thủ tục chứng thực. Nay ông T1 bà T2 đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T vô hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chị T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 100, Điều 166, Điều 167 và khoản 2 Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 117, Điều 118, Điều 129, Điều 158, Điều 223, Điều 500, Điều 502 và Điều 503 của Bộ luật Dân sự; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T. Buộc anh Thiều Mạnh C và chị Nguyễn Thị M trả lại cho chị Trần Thị T 374,4m² đất theo chỉ giới 5, 6, 18, 19, 10, 11, 5 (có sơ đồ kèm theo)

Buộc anh Thiều Mạnh C và chị Nguyễn Thị M phải tháo dỡ các tài sản trên đất để trả lại mặt bằng cho chị Trần Thị T sử dụng, bao gồm: 01 chuồng trại chăn nuôi, các cây cối đã trồng trên đất tranh chấp.

Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị T2 và ông Thiều Văn T1.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/3/2024 anh Thiều Mạnh C là bị đơn, chị Trần Thị T2, ông Nguyễn Văn T3 và chị Nguyễn Thị M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều kháng cáo đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo đó là: Tuyên bác yêu cầu khởi kiện buộc anh Thiều Mạnh C chị Nguyễn Thị M trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 374,4m² đất cho chị T; tuyên bố quyết định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu I, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ, diện tích 2707,0m² giữa ông Thiều Văn T1, bà Trần Thị T2 chuyển nhượng cho chị Trần Thị T là vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng pháp luật; hủy giấy chứng nhận quyền dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BX217523 do UBND huyện T cấp ngày 03/02/2015 đã cấp đứng tên chị Trần Thị T; giải quyết hậu quả khi tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Anh anh C, chị M, bà T2 và ông T1 đều trình bày lý do kháng cáo: Hội đồng xét xử sơ thẩm đã nhận định, quyết định giao dịch chuyển nhượng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu I, xã Y, huyện T diện tích 2707,0m² giữa ông T1 và bà T2 chuyển nhượng cho chị T là hợp pháp, từ đó không chấp nhận yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển nhượng thửa đất trên vô hiệu, từ đó không hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX217523 do UBD huyện T cấp gày 03/02/2015 đứng tên chị Trần Thị T, tuy nhiên: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T cấp ngày 03/02/2015 ghi nhận quyền sở hữu thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu I, xã Y, huyện T diện tích 2707,0m² cho chị T sở hữu do TAND huyện Thanh Thủy thu thập được hồ sơ từ Văn phòng đăng ký đất đai và quỹ đất huyện T, kết luận giám định 885/KL-KTHHS ngày 26/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Chữ ký Tính và chữ viết Trần Thị T2 trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất so với mẫu chữ ký và chữ viết của bà T2 để giám định thì các chữ này không phải do một người viết ra. Ông T1 bà T2 xác định là không ký và viết tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không đến UBND xã để chứng thực hợp đồng, các trang của hợp đồng không ai ký, không đánh số trang... nên đã vi phạm Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, vi phạm Điều 12 của Luật đất đai 2013. Tài liệu là giấy biên nhận tiền năm 2014 của bà T2 tự mình ký lập, giấy chuyển nhượng thửa đất số 54 do ông T1 tự lập nên không phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cũng không có đồng thuận ý chí, ký xác nhận của đồng sở hữu còn lại đối với thửa đất và cũng không có ký xác nhận của bên mua/bên nhận chuyển nhượng trong các tài liệu. Tất cả những vi phạm này không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa đánh giá khách quan, toàn diện đối với nguồn gốc đất hình thành ranh giới giữa thửa đất số 54 và thửa đất số 55. Thực tế ranh giới giữa thửa đất số 54 mà vợ chồng chị T mua lại của ông T1 bà T2 đã được hai bên mua bán và anh C chị M xác định và thừa nhận trên thực tế ranh giới diện tích, thửa đất mua bán số 54 và thửa đất số 55 của anh C chị M là từ tường bao xây gạch ba vanh của nhà anh C xây từ trước đó trở đi sang phần đất nhà ông N2. Ranh giới giữa thửa đất của nhà ông T1 bà T2 và thửa đất của nhà anh C chị M được các bên thỏa thuận, xác định ghi nhận trên thực tế sử dụng ngay từ thời điểm mua bán năm 2014. Anh C chị M thực tế công khai liên tục, ngay tình, chiếm hữu sử dụng diện tích đất theo ranh giới/mốc giới mà các bên đã xác lập với nhau. Từ năm 2015 đến năm 2022 các chủ sử dụng đất liền kề không tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. Ranh giới giữa thửa đất số 54 và 55 được xác lập trên thực tế theo ý chí, thỏa thuận, ghi nhận thực tế trong quá trình sử dụng đất không trái pháp luật ba bên, ranh giới thỏa thuận này giữa các đương sự là hoàn toàn phù hợp với các quy định tại khoản 1 Điều 175, 180, 182, 183 và khoản 1, 2 Điều 184, Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với phần diện tích tăng thêm không phải do phía anh C chị M lấn chiếm của chị T mà do anh C chị M được ông M1 là chủ sử dụng đất liền kề tặng cho bằng miệng từ năm 2001.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, chị Trần Thị T là nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; anh Thiều Mạnh C, chị Nguyễn Thị M, chị Trần Thị T2 và ông Thiều Văn Thế 1 những người kháng cáo không thay đổi, bổ sung hoặc rút đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu về tố tụng và giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, riêng chị M không chấp hành các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Thiều Mạnh C, ông Thiều Văn T1 và bà Trần Thị T2 về giải quyết lại bản án dân sự sơ thẩm. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị M do vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Thiều Mạnh C, chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Miễn án phí phúc thẩm cho bà Trần Thị T2 ông Thiều Văn T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về kháng cáo: Khi xét xử và tuyên án sơ thẩm thì các đương sự có mặt, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thì anh C, chị M, bà T2 và ông T1 kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh C, chị M, bà T2 và ông T1 kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết.

[2] Về tố tụng:

Xét thấy đơn khởi kiện của chị Trần Thị Thanh g bị đơn là anh Thiều Mạnh C, không ghi bị đơn là chị Trần Thị M2. Quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa chị Trần Thị M2 vào tham gia tố tụng, nhưng khi xét xử thì xác định chị M2 là bị đơn. Mặc dù đương sự không kháng cáo nội dung này nhưng có liên quan đến giải quyết vụ án nên cấp phúc thẩm xem xét giải quyết. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định lại chị Trần Thị M2 tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Chị Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt phiên tòa lần 2 không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị M.

Ông Hoàng Trọng G và ông Mai Bá H2 là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Thiều Mạnh C. Tại cấp phúc thẩm, anh Thiều Mạnh C tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không nhờ ông G và ông H2 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh C. Căn cứ khoản 13 Điều 70 và Điều 75 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không đưa ông G và ông H2 vào tham gia tố tụng.

[3] Về nội dung kháng cáo: Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy đã quyết định buộc vợ chồng anh Thiều Mạnh C chị Nguyễn Thị M trả lại cho chị Trần Thị T diện tích đất là 374,4m² và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất 374,4m², không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T1 bà T2. Anh C, chị M, bà T2, ông T1 không đồng ý bản án dân sự sơ thẩm nên kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Xét thấy bố mẹ đẻ của anh C là ông T1 bà T2 có thửa đất tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T. Ngày 23/7/2010, thửa đất của ông T1 bà T2 được tách thành hai thửa nên UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC764551 cho ông T1 bà T2 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC764550 cho anh C chị M. Thửa đất của ông T1 bà T2 là thửa số 54 tờ bản đồ số 9 có diện tích 2707,0m², thửa đất của anh C chị M là thửa số 55 tờ bản đồ số 9 có diện tích là 2756,0m². Năm 2022 anh C chị M chuyển nhượng cho vợ chồng anh L chị N1 1117,7m² đất nên diện tích đất còn lại của anh C chị M là 1638,3m² đất. Sau khi chuyển nhượng đất cho anh L chị N1, ngày 12/4/2022 anh C chị M được UBND huyện T cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC924781 nên hiện nay thửa đất số 55 tờ bản đồ số 9 là thửa số 16 tờ bản đồ số 26. Năm 2014 ông T1 bà T2 chuyển nhượng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 diện tích 2707,0m² cho chị T, khi chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng và chứng thực tại UBND xã Y (nay là UBND xã T), huyện T, ngày 03/02/2015 chị T được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX217523 có diện tích là 2707,0m² đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chị T vẫn giữ nguyên số thửa và tờ bản đồ như cấp cho ông T1 bà T2. Vị trí thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 và thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 là tiếp giáp với nhau. Anh C là con trai của ông T1 bà T2, sinh sống và làm nông nghiệp tại xã Y, huyện T nên biết năm 2014 ông T1 bà T2 chuyển nhượng thửa đất số 54 cho chị T, khi chị T nhận chuyển đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng anh C chị M không có ý kiến gì. Anh C cho rằng năm 2013 vợ chồng anh C chị M có đổ bê tông để làm mốc giới của thửa đất số 16 và đến năm 2021 xây tường gạch lên trên phần bê tông này để làm hàng rào là không có căn cứ, vì ngày 28 và 29/4/2022 chị T và anh C đều tham gia hòa giải tranh chấp diện tích đất giữa chị T và anh C tại UBND xã T, nội dung biên bản thể hiện là phần diện tích đất tiếp giáp với hai thửa đất liền kề hiện đang tranh chấp thì anh C đang xây tường rào, chủ trì Hội đồng hòa giải đã yêu cầu anh C dừng xây dựng tường bao trên phần đất tranh chấp. Khi Tòa án cấp sơ thẩm xem xét thẩm định tại chỗ thì bức tường bao xây trên đất đã xây xong so với thời điểm U. Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015, vợ chồng anh C chị M sử dụng thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 là không đúng mốc giới.

Chị T và anh C đều trình bày ngày 22/01/2022, chị T chuyển nhượng cho vợ chồng anh C chị M 169,0m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ 9 tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trị giá 100.000.000 đồng, khi chuyển nhượng đất hai bên có lập biên bản thỏa thuận mua bán đất và tài sản trên đất, có bà Trần Thị T2 là mẹ đẻ của anh C làm chứng nên bà T2 đã ký vào biên bản thỏa thuận, bà T2 là người trả tiền cho chị T thay cho vợ chồng anh C chị M trị giá diện tích đất nhận chuyển nhượng. Vị trí diện tích đất 169,0m² chuyển nhượng là tiếp giáp với thửa đất số 16 của vợ chồng anh C chị M, có một cạnh tiếp giáp với đường đi dài 2,35m tính từ thửa đất của vợ chồng anh C chị M sang thửa đất của chị T. Như vậy, vợ chồng anh C chị M và chị T đã xác định rõ mốc giới thửa đất số 16 của vợ chồng anh C chị M và thửa đất số 54 của chị T, trên thửa đất số 54 của chị T thì anh C chị M đã xây một phần ngôi nhà trên đất, để tránh phải tháo dỡ một phần ngôi nhà của anh C chị M nên các bên đã thỏa thuận là chị T chuyển nhượng cho anh C chị M 169,0m² đất đang có một phần ngôi nhà của anh C chị M.

Ông T1 bà T2 cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T thì ông T1 bà T2 không ký nên hợp đồng này là vô hiệu. Xét thấy ông T1 bà T2 có thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 diện tích 2707,0m² tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2014 ông T1 bà T2 chuyển nhượng thửa đất số 54 cho chị T với giá 150.000.0000 đồng, chị T đã trả đủ tiền cho vợ chồng ông T1 bà T2, còn vợ chồng ông T1 bà T2 đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T để chị T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi chị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi chị T chuyển nhượng 169,0m² đất cho vợ chồng anh C chị M có sự chứng kiến của bà T2 thì bà T2 không có ý kiến gì về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T, bà T2 là người trực tiếp trả tiền cho chị T thay cho anh C chị M giá trị diện tích đất nhận chuyển nhượng. Mặc dù chữ ký và chữ viết họ tên của ông T1 bà T2 trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải của ông T1 bà T2 nhưng vợ chồng ông T1 bà T2 đã thể hiện ý chí định đoạt thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 cho chị T, thực tế chị T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng thửa đất đến khi xẩy ra tranh chấp mốc giới với thửa đất liền kề thì ông T1 bà T2 mới đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T vô hiệu; việc chuyển nhượng đất giữa ông T1 bà T2 và chị T đã được lập hợp đồng và chứng thực tại UBND xã Y nên sự sai sót về chữ ký và chữ viết của các bên trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là lỗi của UBND xã Y, các bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có lỗi. Căn cứ Điều 121, Điều 122, Điều 170, Điều 265, Điều 697 và Điều 702 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 129 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 Luật Đất đai năm 2013, xác định chị T có quyền sử dụng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 diện tích 2707,0m² tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 16 và thửa đất số 54. Diện tích thửa đất số 16 hiện vợ chồng anh C chị M đang sử dụng là 2181,7m²; diện tích thửa đất số 54 hiện chị T đang sử dụng là 2119,9m². Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho vợ chồng anh C chị M và 169,0m² đất vợ chồng anh C chị M nhận chuyển nhượng của chị T ngày 22/01/2022 thì vợ chồng anh C chị M có quyền sử dụng tổng diện tích đất là 1807,3m² (1638,3m² + 169,0m² = 1807,3m²), so với diện tích đất thực tế vợ chồng anh C chị M đang sử dụng là thừa 374,4m² (2181,7m² - 1807,3m² = 374,4m²); diện tích đất của chị T còn lại sau khi chuyển nhượng cho vợ chồng anh C chị M là 2538,0m² (2707,0m2 - 169,0m2 = 2538,0m²), so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thiếu 418,1m² (2538,0m² - 2119,9m² = 418,1m²). Đối chiếu giữa bản trích đo hiện trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T, bản trích đo hiện trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh C chị M với trích đo hiện trạng khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 54 và thửa đất số 16, diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất nhận chuyển nhượng của chị T thì thửa đất số 16 của anh C chị M có cạnh tiếp giáp với đường đi thừa 2,7m, cạnh đất phía sau tiếp giáp với đất rừng sản xuất thừa 8,1m, sau khi trừ diện tích đất chuyển nhượng cho anh C chị M thì thửa đất số 54 của chị T có cạnh tiếp giáp với đường đi thiếu 2,7m, cạnh phía sau tiếp giáp với rừng sản xuất thiếu 8,1m. Chị T xác định thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 của chị hiện nay vợ chồng anh C chị M đang sử dụng 374,4m² đất nên chị T khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh C chị M trả lại 374,4m² đất, đối với diện tích đất 43,7m² (418,1m² - 374,4m² = 43,7m²) bị thiếu thì chị T không đề nghị giải quyết. Trên phần diện tích đất 347,4m² của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 có chuồng trại chăn nuôi, bức tường xây bằng gạch và cây cối trồng trên đất là của vợ chồng anh C chị M.

Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích đánh giá về quyền sử dụng thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 của chị T và thửa đất số 16 tờ bản đồ số 26 của vợ chồng anh C chị M, hiện trạng sử dụng đất và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về yêu cầu vợ chồng anh C chị M trả lại chị T 374,4m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; vợ chồng anh C chị M phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất 374,4m² của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 để trả mặt bằng quyền sử dụng đất cho chị T sử dụng; không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T1 bà T2 về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1 bà T2 và chị T vô hiệu là phù hợp. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của anh C, ông T1 và bà T2 về giải quyết lại bản án dân sự sơ thẩm, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh C, bà T2 và ông T1 không được chấp nhận nên anh C, ông T1 và bà T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông T1 bà T2 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí phúc thẩm cho ông T1 bà T2.

Chị M vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của chị M nên chị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của anh Thiều Mạnh C, ông Thiều Văn T1 và bà Trần Thị T2 về giải quyết lại bản án dân sự sơ thẩm. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của chị Nguyễn Thị M do vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

  2. Căn cứ Điều 166; Điều 168, Điều 175 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 148 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T về yêu cầu vợ chồng anh Thiều Mạnh C, chị Nguyễn Thị M trả lại 374,4m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ.
    2. Buộc vợ chồng anh Thiều Mạnh C, chị Nguyễn Thị M trả lại cho chị Trần Thị T 374,4m² đất của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX217523 ngày 03/02/2015, theo chỉ giới 10-11=2,7m, 11-5=72,2m, 5-6=8,1m, 6-18=28m, 18-19=22,6m, 19-10=22,6m (Có sơ đồ diện tích đất tranh chấp kèm theo).
    3. Buộc vợ chồng anh Thiều Mạnh C, chị Nguyễn Thị M phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất 374,4m² của thửa đất số 54 tờ bản đồ số 9 tại khu I (nay là khu A), xã Y (nay là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ để chị Trần Thị T sử dụng mặt bằng, bao gồm: Một phần chuồng trại chăn nuôi lợp ngói Fibroximang theo chỉ giới 14-15=3m, 15-16=10,4m, 16-17=3,5m, 17-14=10,4m; Bức tường xây bằng gạch có chiều dài 73,2m theo chỉ giới 10-19=22,6m, 19-18=22,6m, 18-6=28m; Các cây trồng trên đất và toàn bộ tài sản phát sinh trên diện tích đất nếu có (Có sơ đồ diện tích đất tranh chấp kèm theo).
    4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Thiều Văn T1 và bà Trần Thị T2 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị Trần Thị T, giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị tuyên vô hiệu.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Thiều Mạnh C và chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Trần Thị T2 và ông Thiều Văn T1 đối với phần yêu cầu độc lập không được chấp nhận vì chị Trần Thị T2 và ông Thiều Văn Thế 1 người cao tuổi và có có đơn xin miễn án phí.

    Hoàn trả cho chị Trần Thị T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2020/0006068 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Thiều Mạnh C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003752 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy. Anh Thiều Mạnh C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

    Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003751 ngày 21/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

    Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Trần Thị T2 và ông Thiều Văn T1 vì là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND huyện Thanh Thủy;
  • - VKSND huyện Thanh Thủy
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Khắc Chiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 47/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 47/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger