|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 47 /2021/DS-PT Ngày: 15-6-2021 “V/v Tranh chấp Quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà.
- Các Thẩm phán: Ông Ngô Chịu; Bà Lê Thị Thái Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thiện Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2020/DS-PT ngày 05 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2020/DS-ST ngày 28/8/2020 của Toà án nhân dân huyện T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2021/QĐ-PT ngày 03/3/2021, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 84/2021/TB-TA ngày 13/5/2021 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Vạn T – sinh năm 1952; Nơi cư trú: thôn C, xã HT, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn:
- 2.1. Ông Ngô Xuân B – sinh năm 1954;
- 2.2. Ông Lưu Văn C – sinh năm 1953;
- Người có quyền lời nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. UBND xã HT, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
- 3.2. Bà Nguyễn Thị Ch – sinh năm 1958; Vắng mặt.
- 3.3. Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1958; Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Vạn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên toà, nguyên ông Lê Vạn T trình bày:
Năm 1995, ông được Nhà nước cấp đất rừng có sổ lâm bạ quyền sử dụng 20.000m² tại khu vực H, thôn C, xã HT, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông trồng cây được nhà nước cấp gồm 2.500 cây keo lá tràm và 2.500 cây bạch đàn; ông được ông H - Lâm nghiệp xã cho 12.000 cây keo lá tràm và trồng thêm 2.000 cây bạch đàn, tổng cộng 19.000 cây. Do hoàn cảnh khó khăn nên ông đi làm ăn xa. Năm 1999, ông về ăn tết và đến thăm rừng thì thấy ông Ngô Xuân B lấn chiếm phần đất phía Tây Nam và đường mòn phía Nam đất của ông, ông Lưu Văn C lấn chiếm phần đất phía Đông Nam và đường mòn phía Nam đất ông. Theo đo đạc thực tế thì ông B lấn 8.648m², ông C lấn 1.884m²; diện tích đất thực tế của ông đang sử dụng 28.451m² (chưa tính hai diện tích đất đang tranh chấp) là do ông tự lấn chiếm đất của Nhà nước khoảng 18.000m². Nay ông khởi kiện yêu cầu ông B và ông C trả lại các diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên và yêu cầu ông B phải bồi thường giá trị cây đã khai thác là 6.500 cây x 20.000đ/cây = 130.000.000đ, ông C bồi thường 1.500 cây x 20.000đ/cây = 30.000.000đ (ông chỉ yêu cầu bồi thường về lứa cây khai thác lần thứ hai vào năm 2004).
Theo các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa, bị đơn ông Ngô Xuân B trình bày: Năm 1989, Hợp tác xã HT, huyện T có hợp đồng với 04 xã viên gồm: Lương Vĩnh A, Lưu Văn C, Võ Th và Võ Nh để trồng cây bạch đàn tại núi H. Sau đó, B ông A, Th và Nh đã chuyển nhượng lại cho ông canh tác toàn bộ diện tích khoảng 02ha đất rừng theo hợp đồng viết tay giữa các bên. Năm 1993, ông có nhận cây bạch đàn con của Hợp tác xã đầu tư theo hợp đồng ngày 01/11/1989. Từ năm 1993 đến năm 1995, ông đã trồng bạch đàn trên diện tích nêu trên, có giới cận: Đông giáp đường đèo và đất rừng ông C, phía Tây giáp đất rừng nguyên sinh, phía Nam giáp đất ruộng, phía Bắc giáp đất ruộng. Năm 1995 có dự án Pam, ông đăng ký và được cấp sổ lâm bạ diện tích 1,5ha. Lúc này, ông đã trồng cây bạch đàn được 02 năm tuổi. Khi có dự án hồ Hóc Răm mở đường đi qua đất rừng của ông làm thiệt hại về cây và được bồi thường gần 5.000.000đ theo biên bản ngày 22/3/1995. Theo dự án Pam thì ông T mới đăng ký trồng rừng giáp ranh đất rừng của ông. Từ đó đến nay ông đã được nhà nước hai lần cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Lần 1 cấp theo sổ lâm bạ với diện tích 1,5ha; lần 2 thì cấp đổi theo diện tích đo đạc thực tế có biên bản các hộ giáp ranh cùng ký, diện tích đất của ông lúc này là 28.243m². Do đó, ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn ông Lưu Văn C trình bày: Ông nhận hợp đồng canh tác đất rừng trước ông Ngô Xuân B, sau đó ông có chuyển nhượng lại một phần đất cho ông B canh tác. Trường hợp của ông cũng như của ông B, đất đã được cấp sổ lâm bạ, sau đó nhà nước thu lại sổ lâm bạ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 1 với diện tích 20.000m². Khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 2 có đo đạc hiện trạng thực tế và có biên bản xác nhận ranh giới giữa các hộ liền kề là hộ ông T, ông B và hộ ông, diện tích đất thực tế của ông lúc này là 20.745m². Ông T đã thống nhất với diện tích đo đạc, không có ý kiến gì. Do đó, nay ông T cho rằng ông lấn đất, yêu cầu trả lại đất và bồi thường cây, ông không chấp nhận.
Người có quyền lời nghĩa vụ liên quan:
UBND xã HT trình bày: Năm 1995, khi xây dựng hồ Hóc Răm có mở đường kề theo đường cũ phía Tây thửa đất của ông T và mặt bằng đã lấy đất làm hồ ở phía Đông đất ông T, hai vị trí này có diện tích khoảng 4.000m² đến 5000m² do UBND xã HT quản lý. Việc ông T tự ý lấn chiếm diện tích đất giao thông và đất đồi chưa sử dụng do xã quản lý để trồng cây là không đúng. UBND xã yêu cầu ông Lê Vạn T thu hoạch cây trồng giao trả lại hai diện tích đất nêu trên cho UBND xã quản lý sử dụng theo quy định, nhưng không có yêu cầu trong vụ án này.
Bà Nguyễn Thị Ch: Thống nhất như bị đơn Lưu Văn C trình bày, không bổ sung gì thêm.
Bà Nguyễn Thị L: Thống nhất như bị đơn Ngô Xuân B trình bày, không bổ sung gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2020/DS-ST ngày 28/08/2020 của Toà án nhân dân huyện T đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 165, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5, 26, 95, 100, 166 và 170 Luật đất đai; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Vạn T về việc:
- Yêu cầu bị đơn Ngô Xuân B phải trả lại diện tích đất trồng rừng 8.648m², có giới cận: Đông giáp đất nguyên đơn T và phần đất nguyên đơn T đang tranh chấp với bị đơn C, Tây giáp đất bị đơn B, Nam giáp đường đi, Bắc giáp đất nguyên đơn T, thuộc thửa đất số 123, tờ bản đồ số 1, tại H, xã HT, huyện T, tỉnh Phú Yên;
- Yêu cầu bị đơn Lưu Văn C phải trả lại diện tích đất trồng rừng 1.884m², có giới cận: Đông giáp đất bị đơn C, Tây giáp đất nguyên đơn T và bị đơn B, Nam giáp đường đi, Bắc giáp đất nguyên đơn T, thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số 1, tại H, xã HT, huyện T, tỉnh Phú Yên;
- Yêu cầu bị đơn Ngô Xuân B phải thanh toán số tiền 130.000.000đ về khoản: Bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm;
- Yêu cầu bị đơn Lưu Văn C phải thanh toán số tiền 30.000.000đ về khoản: Bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm;
Ngày 11/9/2020, nguyên đơn ông Lê Vạn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Vạn T về việc buộc bị đơn Ngô Xuân B phải trả lại diện tích đất 8.648m² và bị đơn Lưu Văn C phải trả lại diện tích đất 1.884m²: Nguyên đơn T căn cứ Sổ lâm bạ số 894 do Hạt kiểm lâm huyện T cấp ngày 14/12/1995... theo đo đạc tổng diện tích đất thực tế ông đang quản lý, sử dụng là 28.451m², cộng thêm phần các ông B, C lấn chiếm thì diện tích thực tế của ông là 38.983m² mới chính xác.
[2] Xét thấy: Tại văn bản Xác nhận tình hình sử dụng đất lâm nghiệp của các hộ liên quan... Năm 2009, Công ty đo đạc ảnh địa hình thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường đo đạc bằng ảnh hàng không... diện tích đất của ông T chỉ còn 18.142m², tờ bản đồ số 01, số hiệu 124... diện tích đất thực tế này được chính ông T xác nhận tại BL110: “… Hôm nay ngày 05-8-2009 qua xác định ranh giới đất lâm nghiệp giữa B hộ: T - C – B. Tôi thống nhất diện tích đã được đo đạc như trong bản đồ với diện tích là 18.142m² …”.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn Lê Vạn T về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm... Xét thấy: Theo các văn bản ông T cung cấp không khẳng định được phần cây đang tranh chấp được trồng trên đất của ai... Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Lê Vạn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn ông Lê Vạn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Vạn T.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Phú Yên(2); - TAND huyện T(2); - CC THADS huyện T; - P.NVKT; - Các đương sự; - Lưu AV, Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
(Phần hướng dẫn sử dụng mẫu số 75 đính kèm trong tài liệu gốc)
Bản án số 47/2021/DS-PT ngày 15/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 47/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn đòi lại đất rừng
