TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 469/2024/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2024 V/v ly hôn Trang – Hùng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Lê Văn Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2024/TLST- HNGĐ, ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 319/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy T, sinh năm 1999; nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện nay: H, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Quốc H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ 1, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2023 và lời khai của nguyên đơn bà Lê Thị Thùy T trình bày: Sau thời gian tìm hiểu bà T và ông Lê Quốc H tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng làm công nhân ở tỉnh Bình Dương nhưng ông H không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu, tụ tập với bạn bè, cũng không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Bà T gửi tiền cho mẹ chồng chăm sóc con của bà T ông H. Những lúc bà không có tiền gửi thì mẹ chồng lại đi nói xấu bà với người khác. Từ đó bà T và mẹ chồng cũng không hoà thuận. Trong năm 2019, bà T bỏ về nhà mẹ ruột ở xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, còn ông H về nhà mẹ ruột ở xã P, huyện P, tỉnh An Giang sinh sống. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Bà T không còn tình cảm ông H nên yêu cầu ly hôn với ông H.
Bà và ông H có một con chung tên Lê Thị Yến N, sinh ngày 29/5/2018, hiện nay đang sống với anh H. Bà T đồng ý để anh H được quyền tiếp tục nuôi con chung, bà T không cấp dưỡng nuôi con.
Bà và ông H không có tài sản chung, nợ chung
Bị đơn ông Lê Quốc H vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị Thùy T được ly hôn ông Lê Quốc H. Bà T và ông H có 01 con chung, giao ông H tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Ông H không yêu cầu nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà T và ông H không có tài sản chung nợ chung nên không xem xét giải quyết. Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà T và ông H tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 109 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P cấp ngày 06/12/2017 hôn nhân là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Quá trình chung sống bà T và ông H nhiều lần mâu thuẫn và ly thân từ năm 2019 đến nay. Xét thấy, bà T và ông H vi phạm nghĩa vụ chung sống, yêu thương, chăm sóc của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
[2.2] Về nuôi con chung: Bà T và ông H có một con chung tên Lê Thị Yến N, sinh ngày 29/5/2018, hiện nay đang sống với ông H. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay ông H là người trực tiếp nuôi con, để ổn định cuộc sống của cháu nên Hội đồng xét xử giao con chung cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông H không yêu cầu nên không buộc bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thùy T.
1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thùy T được ly hôn ông Lê Quốc H.
2. Về con chung: có một con chung tên Lê Thị Yến N, sinh ngày 29/5/2018, hiện nay đang sống với ông H. Giao con chung cho ông H được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông H và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện cho bà T đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở bà T thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ: Ghi nhận bà T trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006693 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Ông H không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Rỡ |
Bản án số 469/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 469/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
